NGƯỜI ĐƯA TIN 289

NƠI CHIA SẺ THÔNG TIN ĐA CHIỀU VỀ MỌI VẤN ĐỀ
  • TRƯỜNG SA - HOÀNG SA VÀ NHỮNG CHUYỆN CHƯA BAO GIỜ KỂ

    Hôm trước, mình đặt câu hỏi về việc các bạn suốt ngày phê phán Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam "nhai đi nhai lại" các thông điệp phản đối khi Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, vậy theo các bạn chúng ta phải làm gì?

  • NGUYỄN VĂN HÓA - TỪ CON ĐƯỜNG PHẠM TỘI BÁN NƯỚC ĐẾN CON ĐƯỜNG VÀO NHÀ GIAM

    Năm 2013, Nguyễn Văn Hóa đã lập tài khoản Facebook “Nguyễn Văn Hóa (Maria Luygonjaga)” tại địa chỉ www.facebook.com/Nguoidaxatoi để kết bạn, trao đổi thông tin với các đối tượng như Lê Đình Lượng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Hoàng Đức Bình.

  • NHẬN BIẾT THỦ ĐOẠN MỚI CỦA KẺ THÙ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN

    Trong tình hình mới, các thế lực thù địch vẫn luôn câu kết chặt chẽ với nhau để thúc đẩy từ “diễn biến hòa bình” sang “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, chống phá Đảng, Nhà nước và giai cấp công nhân Việt Nam với cấp độ và cường độ ngày càng quyết liệt, thâm hiểm hơn.

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

TỒNG HỢP MỘT SỐ Ý KIẾN PHÁT BIỂU XÂY DỰNG LUẬT BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NGÀY 11/11/2020

 

Quốc hội thảo luận về Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ, có một số ý kiến phát biểu xây dựng bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ như sau:

PHẦN 1:

1. TỔ 1

1.1. Đồng chí Đào Thanh Hải (Hà Nội)

- Thống nhất với việc tách 2 Luật, vì:

+ Tai nạn giao thông có chiều hướng giảm nhưng chưa được như mong muốn, mỗi năm vẫn có gần 10.000 chết, hàng 100.000 người bị thương.

+ Chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm về tình hình trật tự, an toàn giao thông (thực tiễn chưa xử lý được ai).

+ Chức năng quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông còn đang chồng chéo.

+ Chức năng của Bộ Công an là quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trong đó có quản lý về trật tự an toàn giao thông (quản lý phương tiện và quản lý con người).

+ Khi tách và xây dựng Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Bộ Công an sẽ là đơn vị chịu trách nhiệm mọi mặt về vấn đề bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trước Chính phủ và trước nhân dân.

- Về nội dung dự thảo Luật: Nhất trí hoàn toàn với nội dung dự thảo Luật.

2. TỔ 2

2.1. Thiếu tướng Nguyễn Minh Đức, Ủy viên Thường trực Ủy ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội. Ý kiến đại biểu như sau:

- Việc tách thành 2 luật đã có chủ trương từ lâu, do căn cứ vào tình hình thực tiễn. Luật GTĐB hiện nay đang có sự điều chỉnh quá lớn, nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, nên tiếp tục thực hiện sẽ không điều chỉnh được. Đồng thời sẽ phân công, phân định được rõ ràng trách nhiệm của các bộ, ngành, tránh chồng chéo; các bộ chủ động hơn trong công tác bảo đảm TTATGT theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

- Về công tác đào tạo, sát hạch lái xe:

+ Lịch sử trước đây là do Bộ Công an thực hiện. Thực tế hiện nay cho thấy, lái xe của Công an, Quân đội tuy có thời gian thực tế lái ít, nhưng vẫn đảm bảo rất an toàn và còn biết sửa chữa… đây chính là vấn đề đào tạo và xây dựng ý thức lái xe trong quá trình đào tạo lái xe.

+ Trong báo cáo đánh giá tác động Luật Bảo đảm TTATGT đường bộ, đã nêu rất rõ: Tất cả các trung tâm đào tạo đã được xã hội hóa, vấn đề là chỉ chuyển chức năng sát hạch, cấp GPLX và quản lý lái xe, không làm tăng thêm biên chế.

+ Trong Luật Bảo đảm TTATGT đường bộ cũng quy định rõ vấn đề giám sát, việc này sẽ được thực hiện bởi Mặt trận tổ quốc, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Quốc hội và sẽ được trao quyền giám sát phù hợp.

+ Vấn đề trừ điểm GPLX: Cần phải có cơ chế giám sát rõ ràng, thực chất để biết được người nào thường xuyên lái xe (sẽ có kinh nghiệm hơn, thao tác tốt hơn), người nào lái xe ít hơn (kinh nghiệm, thao tác sẽ kém hơn)…

+ Sau kỳ họp này, sẽ tổ chức 4 cuộc hội thảo để lấy ý kiến rộng rãi đối với 2 dự thảo Luật.

- Ý kiến tham gia đối với nội dung Luật:

+ Quỹ đất hiện nay dành cho giao thông rất hạn chế, cùng một diện tích đất phải gánh chịu rất nhiều công trình: chung cư, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học… do đó, đòi hỏi tầm nhìn của người lãnh đạo trong quy hoạch; đồng thời Luật phải quy định chấm dứt tình trạng đường đến đâu, nhà đến đó; phải quy hoạch đường sắt song song với đường bộ.

2.2. Đại biểu Dương Ngọc Hải, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.

- Đồng ý tách 2 luật nhưng cần thực hiện thận trọng tránh tình trạng chồng chéo, chồng lấn

- Điều 61 Luật Bảo đảm TTATGT đường bộ: cần xem xét kỹ quy định về chủ thể (CSGT, Thanh tra giao thông) được dừng phương tiện để kiểm tra, kiểm soát, tránh trùng dẫm.

- Về quản lý, đào tạo sát hạch lái xe: Giao Bộ Công an sẽ thuận tiện trong việc quản lý con người, thu hồi GPLX khi vi phạm. Cũng không làm tăng thêm biên chế trong Công an.

- Điều 61, Luật Bảo đảm TTATGT đường bộ cần quy định rõ hơn việc CSGT được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ đối với các đối tượng không chấp hành.

- Luật Giao thông đường bộ cần quy định thêm việc tham gia giao thông đối với các đối tượng yếu thế: người già, người tàn tật, trẻ em…

2.3. Đại biểu Ngô Minh Châu, Phó Giám đốc Công an TP Hồ Chí Minh

- Thống nhất việc tách thành 02 Luật, qua đó các bộ chủ quản sẽ có điều kiện thực hiện chuyên sâu công tác của mình hơn; từ đó thực hiện tốt các mục tiêu: Giảm ùn tắc giao thông; kiềm chế tai nạn giao thông; an toàn cho người tham gia giao thông.

- Việc xây dựng Luật mới cần hướng đến các quy định giải quyết những xung đột giữa chủ xe, chủ doanh nghiệp với người lái xe, giải quyết tình trạng bắt ép lái xe hoạt động của nhiều, quá thời gian quy định

- Việc điều chuyển sát hạch, quản lý, cấp GPLX thực chất là chuyển giao lại cho ngành Công an. Việc này không làm tăng biên chế, vì thực chất chỉ là chuyển bộ phận quản lý. Lực lượng Công an đảm bảo việc quản lý con người chặt chẽ hơn, tốt hơn. Hiện nay trong Công an đã có sẵn cán bộ làm công tác này, quan trọng là việc phối hợp chặt chẽ giữa 2 bộ.

4. TỔ 4

4.3. Đại biểu Nguyễn Thị Minh Trang, Đoàn Đại biểu Vĩnh Long

- Bản thân thì cũng băn khoăn tách Luật giao thông đường bộ ra, tuy nhiên qua nghiên cứu Tờ trình của chính phú, báo cáo thẩm tra của Ủy ban PQAN, báo cáo đánh giá tác động của BCA thì cũng có tính thuyết phục. cho nên về góc độ cá nhân tôi nhất chí tách luật và xây dựng luật chuyên ngành kinh tế kỹ thuật.

- Tuy nhiên cần phải tiếp tục rà soát: Phạm vi điều chỉnh để trách trùng lắp, chòng chéo; các hành vi cấm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

- Hoan nghênh đơn vị soạn thảo đã tiếp thu ý kiến của các địa biểu về việc bổ sung quy định trách nhiệm của bảo hiểm tại Điều 66 để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người tham gia bảo hiểm và khắc phục né tránh bồi thường bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.

- Trách nhiệm của BCA trong quản lý GPLX, đây là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm, cần đánh giá tác động tổng hợp hơn và tiếp tục bổ sung quy định này xem có đáp ứng được yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.

- Cách thức thông quan luật: Do có nhiều điểm trùng lặp chồng chéo do vậy cần phải có đánh giá, tính toán phân tích quan lại giữa an ninh trật tự, an toàn xã hội và kinh tế kỹ thuật thuộc phạm vi giao thông đường bộ để thống nhất và thông quan cùng thời điểm trong thời gian tới.

5. TỔ 5

5.4. Đại biểu Nguyễn Tiến Sinh, đoàn Hòa Bình:

- Ủng hộ hoàn toàn chủ trương xây dựng và các nội dung của dự án Luật, vì nó phù hợp với quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước và thực trạng giao thông ở nước ta hiện nay cần có một cách làm mới;

- Tuy nhiên, đối với nội dung trừ điểm giấy phép lái xe cần cân nhắc kĩ cơ sở pháp lí vì tuy nói nó là biện pháp quản lý hành chính nhà nước nhưng hậu quả của nó lại tương đương với hậu quả pháp lí của các hành vi vi phạm hành chính được điều chỉnh bởi luật XLVPHC;

- Ngoài ra cần nghiên cứu, rà soát kĩ để tránh phát sinh các thủ tục hành chính mới trong quá trình triển khai thực hiện khi dự án Luật được thông qua.

5.5. Đại biểu Nguyễn Thanh Thủy, đoàn Hậu Giang:

Ủng hộ hoàn toàn chủ trương xây dựng và các nội dung của dự án Luật, đồng thời việc chuyển giao nội dung đào tạo, sát hạch giấy phép lái xe là phân công nhiệm vụ giữa các Bộ của Chính phủ, Bộ nào được giao cũng phải xác định rõ vai trò, trách nhiệm để làm cho tốt.

6. TỔ 6

6.1. Đại biểu Phạm Đình Cúc (đoàn đại biểu BRVT)

- Nhất trí việc tách Luật giao thông đường bộ thành 2 Luật.

- Về sát hạch cấp giấy phép lái xe: Hiện Bộ Giao thông vận tải đang làm tốt, không nên đưa cho Bộ Công an.

- Điều 3: + Đề nghị rà soát, chỉnh sửa các giải thích thuật ngữ để tránh trùng lặp với nội dung quy định tại Luật giao thông đường bộ năm 2008. Đề nghị ghép khoản 1, khoản 2 thành một khoản quy định chung theo hướng giải thích rõ thế nào là “Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”; bổ sung một khoản giải thích “đường giao thông nông thôn” cho phù hợp với thực tiễn.

+ Bổ sung nội dung vào khoản 2 Điều 3: “Bảo đảm TTATGT đường bộ là một nội dung của công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; là trách nhiệm...”.

- Điều 4: Đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Hợp lý, khoa học” bên cạnh bảo đảm hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn trong bối cảnh các nước tăng cường ứng dụng các công nghệ cao trong việc quản lý giao thông đường bộ. Đồng thời, nguyên tắc “Hợp lý” cũng được đề cập tại khoản 1b điều 65 của dự thảo Luật.

- Bổ sung điểm d Điều 5: “Văn hóa khi tham gia giao thông; các biện pháp phòng ngừa tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đường bộ; kỹ năng lái xe an toàn; những nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông.

- Sự cần thiết ban hành Luật: đề nghị cân nhắc, xác định rõ các nội dung cần phải điều chỉnh trong Luật, những vấn đề đang được điều chỉnh trong các văn bản dưới Luật đã thực hiện ổn định để đưa vào dự thảo Luật, hạn chế nội dung phải ủy quyền quy định chi tiết.

6.2. Đại biểu Nguyễn Ngọc Phương – Quảng Bình

- Dự án Luật ban hành sát thực và có lợi cho công tác bảo đảm TTATGT đường bộ hiện nay.

- Điều 37: Nên có quy định hướng dẫn về thu hồi đăng ký, đấu giá...(chỉ cần giao Bộ Công an quy định là được).

- Điều 44, Điều 45: Quy định về nội dung đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe giao cho Bộ Công là hợp lý, còn Bộ Giao thông vận tải đảm nhận công tác đào tạo. Do đó, đề nghị quy định rõ có phải Bộ Giao thông vận tải là cơ quan quản lý các Trung tâm đào tạo lái xe hay không.

- Điều 47 (quy định về điểm giấy phép lái xe): Đây là điểm mới giúp quản lý một cách chặt chẽ, khoa học. Tuy nhiên nên có giai đoạn chuyển đổi (quy định vi phạm lần đầu thì cảnh cáo, lần 2 thì tính điểm).

- Điều 54-57: Xử lý sự cố tại nạn giao thông, cần quy định rõ sai phạm phải chịu hậu quả như thế nào.

- Điều 26: Đề nghị bổ sung cụm từ “uy tín” quy định cấm “Cấm xâm phạm đến danh dự, sức khỏe, uy tín....”.

- Biển số xe đề nghị có thêm phân biệt để tăng thu ngân sách, ví dụ: 9999 A, B, C...

6.9. Đại biểu Sùng Thành Cò, Hà Giang

- Ủng hộ việc tách hai Luật là hợp lý.

- Cần xem xét một số quy định về quản lý đường cao tốc, bố trí lực lượng Cảnh sát giao thông.

8. TỔ 8

8.1. Đại biểu Trần Hồng Nguyên- Đoàn Bình Thuận

- Nhất trí ban hành. Nội dung hồ sơ công phu, có tính thuyết phục, đáp ứng yêu cầu ban hành luật.

- Nhất trí đấu giá biển số.

- Đối với công tác quản lý, đào tạo, sát hạch thuộc trách nhiệm Chính phủ phân công cho Bộ phù hợp nhưng cần đánh giá tác động, tính khả thi và chưa thấy đề cập xử lý số cán bộ ngành giao thông làm công tác này.

- Trong tuần tra, kiểm soát, (Nghị định 100 đã quy định) Cảnh sát giao thông huy động … là cần thiết nhưng phạm vi tương đối rộng, quy định phải có giới hạn và trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp cụ thể.

8.6. Đại biểu Nguyễn Thị Phúc, Đoàn Bình Thuận

- Thống nhất tách luật theo phạm vi điều chỉnh, tuy nhiên cần làm rõ những nội dung bị trùng ở 2 luật.

- Lưu ý cần quy định cụ thể hơn đối với những đối tượng yếu thế khi tham gia giao thông.

- Giải thích từ ngữ cần thêm: "Phần đường dành cho ngươi đi bộ"; "Dải phân cách".

Điều 9 hành vi cấm nồng độ cồn đã có tại Luật phòng chống tác hại rượu bia.

- Đội mũ bảo hiểm đúng tiêu chuẩn.

Điều 28: Qua phà, cầu: thêm một số đối tượng ưu tiên như: Phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

- Lĩnh vực quản lý sát hạch, đào tạo, quản lý giấy phép lái xe cần có đánh giá tác động cụ thể về cơ sở vật chất, con người, trang thiết bị, phương tiện. Nếu như hiện nay theo tôi nên để ngành giao thông thực hiện.

TỔ 9:

9.1. Đại biểu Dương Xuân Hòa (Lạng Sơn)

- Đồng ý ban hành Luật (hồ sơ dự án luật đầy đủ theo quy định của Luật ban hành văn bản QPPL; thể chế hóa quan điểm lãnh đạo của Đảng, cụ thể tại Chỉ thị 18 và Kết luận số 45; phù hợp với các điều ước mà Việt Nam là thành viên; dự án luật khắc phục những tồn tại bất cập, tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước về TTATGT đường bộ; làm rõ trách nhiệm các ngành, các cấp trong phòng ngừa TNGT, chống ùn tắc giao thông).

- Tham gia nội dung cụ thể trong dự thảo Luật Bảo đảm TTATGTĐB:

+ Khoản 3 Điều 38 quy định người điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải mang theo 4 loại giấy tờ, không quy định rõ là giấy tờ gốc hay bản photo công chứng (bản công chứng theo luật công chứng cũng có giá trị), đề nghị quy định rõ thêm, nếu quy định như dự thảo sẽ dẫn đến áp dụng pháp luật không rõ.

+ Luật gồm 8 chương 71 điều như báo cáo của cơ quan thẩm tra nêu ra đã tác động lớn đời sống xã hội, đến mọi hoạt động của nhân dân nên cần phải thể hiện rõ vai trò giám sát của hệ thống chính trị như cơ quan dân cử, mặt trận tổ quốc nhưng dự thảo Luật không thấy quy định, chỉ duy nhất có một điều khoản quy định về Mặt trận Tổ quốc.

- Tham gia dự thảo Luật GTĐB: Quy định khoảng cách dừng đỗ tối thiểu giữa các xe ô tô hai bên đường là 20 mét về mặt khoa học thì hợp lý nhưng khó thực thi do điều kiện giao thông của nước ta chưa đáp ứng được. Cần cân nhắc thêm nếu không thì hầu hết các phương tiện đều sẽ vi phạm.

9.2. Đại biểu Trần Sỹ Thanh (Lạng Sơn)

- Đồng ý ban hành Luật

- Nên quy định mỗi chủ xe (cá nhân, tổ chức) phải mở tài khoản để thanh toán phí đường bộ.

9.3. Đại biểu Ngàn Phương Loan (Lạng Sơn)

- Đồng ý ban hành Luật

- Liên quan đến quy định người điều khiển phương tiện phải mang theo nhiều loại giấy tờ đề nghị nghiên cứu bổ sung thêm các chính sách như hỗ trợ phát triển giao thông thông minh; xây dựng dữ liệu cơ sở số về giao thông đường bộ.

- Về hệ thống báo hiệu đường bộ, bổ sung thêm dữ liệu về cự ly có hiệu lực trên các biển cấm dừng, cấm đỗ, các biển giới hạn tốc độ trong thành phố, khu đô thị để tạo sự chủ động cho người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông đường bộ ngay từ đầu.

- Nên cân nhắc về cấp chứng chỉ hành nghề lái xe vì có thể sẽ tạo thêm gánh nặng về thủ tục, chi phí và thời gian.

9.4. Đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn)

- Đồng ý tách thành 02 Luật nhưng phải làm rõ ranh giới giữa 2 luật (giao thông tĩnh, giao thông động), làm rõ các nội hàm, khái niệm, quy định (hiện tại 2 luật ngay cả trong nguyên tắc cũng có sự chồng lấn rất nhiều, Luật GTĐB đưa rất nhiều khái niệm, nội hàm, giải thích từ ngữ thuộc về vấn đề bảo đảm ATGT…). Ngoài ra, cần phải giải quyết việc có những vấn đề nằm trong khoảng kết nối giữa 2 luật, chẳng hạn như vấn đề xây dựng hệ thống tín hiệu giao thông đường bộ đưa vào Luật GTĐB, phải nên có cả ở Luật BĐTTATGTĐB.

- Luật BĐTTATGTĐB có nhiều nội dung quy định quá chi tiết, nên để ở văn bản dưới luật thì phù hợp hơn.

- Vấn đề sát hạch lái xe cần được quy định cụ thể hơn, liên quan đến đào tạo, cấp bằng, định kỳ kiểm tra, điều kiện, tiêu chuẩn liên quan đến lái xe.

- Đối với lái xe nên quy định về thời hạn làm việc trong ngày để đảm bảo an toàn giao thông. Phải kiểm soát tình trạng lái xe liên quan đến sử dụng rượu bia, ma túy, nên quy định kiểm tra, xử phạt rõ hơn.

- Kiểm định phương tiện cần phải có những điều khoản quy định rõ hơn, đặc biệt phải gắn trách nhiệm của cơ quan kiểm định nếu phương tiện không đảm bảo ATKT dẫn đến gây TNGT.

- Về vấn đề bảo hiểm xe, Điều 60 quy định chung chung giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ quyền của người đóng bảo hiểm, cần phải quy định rõ thời hạn để thực hiện bảo hiểm, giải quyết bồi thường.

- Liên quan đến điều kiện để cấp GPLX, cần phải tính đến vấn đề sức khỏe, thể lực, tâm lực, trí lực của lái xe đủ điều kiện để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông.

- Nên có quy định cụ thể hơn về thời hạn, có chế tài đối với các công trình giao thông thi công bị chậm trễ, kéo dài gây ách tắc giao thông. Đề cao trách nhiệm xã hội của chủ đầu tư.

9.5. Đại biểu Võ Trọng Việt (Lạng Sơn)

- Đồng ý tách thành 02 Luật để đảm bảo chuyên sâu hơn.

- Việc chuyển giao sát hạch, cấp GPLX từ Bộ GTVT sang Bộ Công an là thực hiện theo phân công của Thủ tướng. Nếu chuyển giao cho Bộ Công an các đại biểu cũng không cần lo ngại về bộ máy, cơ sở đào tạo, sát hạch, Bộ Công an có đủ điều kiện và khả năng để thực hiện; nếu Chính phủ quyết định giao cho Bộ Công an thì Bộ Công an thực hiện, các đại biểu không nên nặng nề vấn đề này.

9.6. Đại biểu Triệu Tuấn Hải (Lạng Sơn)

- Đồng ý tách thành 02 Luật (phù hợp với chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của mỗi ngành; việc tách không trái với Hiến pháp, phù hợp với Công ước Viên 1968, không mâu thuẫn với hệ thống pháp luật và Luật GTBĐB sửa đổi; khi tách ra sẽ điều chỉnh chuyên sâu được từng lĩnh vực, nâng cao trách nhiệm của mỗi ngành, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phù hợp với tình hình mới; đẩy mạnh cải cánh hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ người dân tốt hơn, tăng cường tính công khai minh bạch, nâng cao ý thức của người thực thi công vụ, phòng ngừa sai phạm tiêu cực của người thực thi công vụ và hiện đại hóa phương thức làm việc thay phương thức thủ công, góp phần tinh giảm bộ máy…)

- Bổ sung thêm khái niệm xe máy điện và có biện pháp quản lý.

- Nên có quy định về khoảng cách (km) xây dựng các trạm dừng nghỉ để phù hợp với quy định về thời gian làm việc của lái xe trong ngày.

9.7. Đại biểu Dương Quốc Anh (Gia Lai)

- Cần thiết tách thành 02 Luật, nhất trí cùng thảo luận cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10, thông qua tại kỳ họp thứ 11 đối với 02 Luật.

- Giao Bộ Công an sát hạch, cấp GPLX là hợp lý, đảm bảo các quy định của pháp luật, người dân sẽ chấp hành tốt hơn, hạn chế bằng giả, đây cũng là một trong những yếu tố góp phần làm giảm TNGT.

- Quy định 4 loại giấy tờ mang theo khi tham gia giao thông là quá nhiều, nên quy định giảm thiểu các loại giấy tờ, có thể chỉ cần GPLX là đủ.

- GPLX của Việt Nam hiện nay khi đi ra nước ngoài phải có cả tiếng Anh mới sử dụng được, thực tế là phải thuê dịch công chứng, sứ quán xác nhận mới dùng được 6 tháng. Đề nghị quá trình xây dựng luật cần chú ý đến vấn đề phù hợp với luật pháp quốc tế để GPLX của ta khi ra nước ngoài vẫn sử dụng được.

- Đề nghị bổ sung quy định rõ hơn về kiểm định để đảm an toàn cho phương tiện khi tham gia thông trên đường.

10. TỔ 10

10.3. Đ/c Hà Thị Lan, ĐBQH tỉnh Bắc Giang:

Nhất trí về sự cần thiết xây dựng, ban hành Luật BĐTTATGTĐB. Tuy nhiên để bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, 2 cơ quan xây dựng luật cần thường xuyên trao đổi, tránh chồng lắp.

- Về phạm vi điều chỉnh: nội dung đào tạo, sát hạch, cấp GPLX cần phải nghiên cứu thêm và có thể theo phương án 2. Nếu như theo phương án 1 thì cần phải có tổng kết, đánh giá cụ thể những mặt được và chưa được của công tác này sau 20 năm thực hiện để từ đó có cơ sở thuyết phục:

- Về nội dung của Luật:

+ Điều 6 về tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật về TTATGTĐB đề nghị bổ sung nội dung “kinh phí tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật về TTATGTĐB là do ngân sách nhà nước đảm bảo và huy động từ các nguồn hợp pháp khác”

+ Điều 9 về các hành vi bị nghiêm cấm đề nghị bổ sung các hành vi “điều khiển xe cơ giới, xe mô tô, xe gắn máy đi trên hè phố”

+ Điều 10, việc chiếu đền laser hoặc đèn có độ sáng cao cũng rất là nguy hiểm đến người đối diện hoặc người khác khi đang tham gia giao thông đường bộ. Về khoản 1 cần làm rõ thêm 1 số trường hợp như sai số của máy đo nồng độ cồn. Khoản 2 cần làm rõ thêm 1 số trường hợp như sử dụng 1 số loại tân dược cũng cho kết quả dương tính khi test nhanh nhưng khi thử máu thì lại âm tính. Khoản 5 đề nghị sửa thành “tại nơi có vạch kẻ đường hoặc báo hiệu khác dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại nhường đường cho người đi bộ và xe lăn của người khuyết tật qua đường”.

+ Điều 18: khoản 1 quy định “phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải”. Nội dung này cần quy định rõ ràng hơn: tốc độ trong quy định là tốc độ xe chạy theo thực tế hay theo loại xe.

+ Điều 23: điểm đ khoản 3 quy định trường hợp phải đỗ tại nơi không được phép đỗ, đề nghị quy định cụ thể về những trường hợp chính đáng.

+ Điều 26: đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về việc không sử dụng các loại còi công suất lớn hoặc gây âm thanh lớn trong khu vực đô thị, khu dân cư tập trung để đảm bảo hạn chế những ảnh hưởng đến người tham gia giao thông và người dân khu vực xung quanh

+ Điều 32: thực tế tại một số thành phố lớn cũng cần bổ sung thêm xe đưa đón học sinh vào các loại xe được ưu tiên.

10.6. Đ/c Y Khut Niê, ĐBQH tỉnh Đắk Lắk:

Cơ bản thống nhất tách luật

- Điều 43 về tuổi, sức khỏe của người lái xe: đề nghị bổ sung thêm quy định về số năm kinh nghiệm lái xe và phải có các bằng trước đó thì mới được cấp bằng lái hạng cao hơn.

- Điều 44: có bằng lái xe thì có cần thiết phải có chứng chỉ hành nghề nữa không vì việc này gây tốn kém cho xã hội.

- Về thời hạn của GPLX hạng C, D, E: muốn cấp lại thì có cần học lại hay chỉ cần kiểm tra sức khỏe.


VẠCH TRẦN TIÊN LŨ

 Tối hôm qua lúc 23h58 tôi được đọc thông tin từ Admin Lũ Hậu

Xin phép được chia sẻ như sau ạ:

 Hà Tĩnh : 40.295.500.000VNĐ : 2066 hộ => 19.504.114VNĐ/hộ

Quảng Bình : 50.523.000.000VNĐ : 14.979 hộ => 3.372.922VNĐ/hộ Nghệ An : 9.209.000.000VNĐ - 997 hộ => 9.236.718 VNĐ/hộ

Huế : 18.366.000.000VNĐ - 18.372 hộ => 7.531.352VNĐ/hộ

Quảng Ngãi : 14.000.000.000VNĐ - 2620 hộ => 5.343.511VNĐ/hộ

Quảng Nam(bạn viết thiếu 3 con số 0 đấy,nhưng tôi hiểu là 12.748.000.000VNĐ,bỏ qua tiểu tiết) : 12.748.000.000VNĐ - 2456 hộ => 5.190.533VNĐ/hộ

Quảng Trị : 33.400.000.000VNĐ - 20.048 hộ => 1.666.001VNĐ/hộ

Tổng hộ trợ 7 tỉnh : - 178.541.500.000VNĐ(không khác so với Thủy Tiên nhé)

 Nói 1 cách đơn giản nhất,và ví dụ người nổi trội nhất thì bảng báo cáo các khoản CHI này................SAI. Tại sao lại sai ạ.?!

Thứ 1 : => Ông Trần Văn Báu (63 tuổi, ở Hà Tĩnh) nuôi 11 con hươu sao, 500 con vịt và 500 con gà đẻ trứng được Thủy Tiên dùng tiền của các Mạnh Thường Quân hỗ trợ 200.000.000VNĐ Như vậy có phải rõ ràng việc tặng 19.504.114VNĐ/hộ là sai hoàn toàn đúng không ạ.?! Vì ông Trần Văn Báu còn được hỗ 200 triệu cơ mà, thế tiền đấy đi đâu,sao không Sao Kê ở đây.?Đó là 1 cái vô lý

Thứ 2 : => ,Tôi đã nói từ 00h10 phút ngày 24/11,nếu tổng Chi mà không nhiều hơn tổng Thu,tôi book vé máy bay vào HCM,đến tận nhà 2 vợ chồng bạn,tôi quỳ xuống tôi xin lỗi 2 vợ chồng bạn luôn..!! Tổng Thu : 177.520.497.816 tỷ đồng(thôi,bỏ qua tiểu tiết,vào việc chính luôn,nhưng đáng lẽ là 177.520.497.816VNĐ,Thủy Tiên nhé) Tổng Chi : 178.541.500.000 tỷ đồng(lại phải nhắc lại,là 178.541.500.000 và đơn vị phải là VNĐ chứ không phải Tỷ Đồng,nhé Tiên) Cái cái bạn quên là quên sao kê CHI PHÍ ĐI LẠI ĂN Ở cho 2 vợ chồng bạn và toàn bộ Ekip của 2 bạn

Thứ 3 : => Cái các bạn không minh bạch ở đây,là việc các bạn phát theo hộ,nhưng mỗi hộ được 1 phiếu,và chỉ người có phiếu mới được nhận tiền hỗ trợ.Vậy thì Hà Tĩnh lấy đâu ra con số 19.504.114VNĐ/hộ.?! Trong khi Công Vinh đã nói rất rõ ràng và tôi có chụp ảnh màn hình,Công Vinh nói : - MỖI NGƯỜI ĐƯỢC 10 TRIỆU ÔNG NHÉ 10.000.000VNĐ nhân với 2066 hộ thì bằng bao nhiêu bạn Thủy Tiên.?!Chính bạn còn không chấp nhận nổi cái sao kê này,chứ đừng nói gì người ngoài

Thứ 4 => Ở Hải Lăng(Quảng Trị) các bạn để hàng nghìn người dân đội mưa chờ bạn phát tiền.Bạn đến đó thấy người đeo vàng,sơn móng chân,các bạn bỏ về luôn,trong khi phiếu nhận tiền các bạn đã phát rồi Vậy xin hỏi làm cách nào ở Hải Lăng và Triệu Phong(Quảng Trị) các bạn phát đủ 20.048 hộ dân.?!Và nếu không phát đủ tại sao các bạn lại Sao Kê vào đây.?! Không phát tiền cho mấy nghìn hộ thì nó có ý nghĩa gì ở đây.?! Thứ 5 : => Việc mua lương thực cứu trợ khẩn cấp,việc thuê xuồng máy,ở đâu trong cái 178.541.500.000VNĐ đã Chi ra.?! Tôi không muốn nặng lời,để buổi sáng Anh/Chị/Em vui vẻ..!! Nhưng Thủy Tiên - Công Vinh,càng giải thích càng lòi ra cái sai.


Thứ Năm, 12 tháng 11, 2020

TẠI SAO PHẢI TÁCH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ LUẬT BẢO ĐẢM TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ


                            Lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ đảm bảo TTATGT đường bộ 
                                                                (ảnh: vovgiaothong.vn)

Hiện nay dư luận còn đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến việc xây dựng và ban hành Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, liệu có cần bổ dung thêm luật mới không khi một số nội dung liên quan đến đảm bảo an toàn giao thông đã có trong Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên khi phân tích, mổ xẻ vấn đề chi tiết hơn, ta nhận thấy Luật Giao thông đường bộ hiện nay có 02 nội dung chính, đó là:

 Một là Nội dung về Trật tự, an toàn giao thông đường bộ thuộc lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội có chức năng chủ yếu là điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và các cá nhân để bảo đảm trạng thái giao thông có trật tự, an toàn, đúng pháp luật. Hai là, nội dung Xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, vận tải đường bộ thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, chủ yếu để điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, cá nhân khi thiết kế, quy hoạch, xây dựng và chuyển giao các công trình hạ tầng giao thông, kinh doanh vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải. Đây là hai lĩnh vực rất lớn và khác nhau nhưng lại đang được điều chỉnh trong cùng một luật dẫn đến không thể quy định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng nhiều nội dung quan trọng thuộc cả hai lĩnh vực, không giải quyết được 02 vẩn đề lớn là an toàn giao thông và phát triển hạ tầng, trong đó an toàn giao thông phải là vấn đề trọng tâm, phát triển hạ tầng là thiết yếu, đột phá mà Đảng ta đã xác định. Như vậy, không xác định được cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về vấn đề an toàn giao thông.

Qua tổng kết thực tiễn 10 thi hành Luật Giao thông đường bộ 2008 nhận thấy cần phải có đạo luật chuyên sâu độc lập về lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ và lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, vận tải đường bộ để giải quyết các vẩn đề bất cập hiện tại và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đòi hỏi trong tình hình mới, trong đó bảo đảm trật tự, an toàn giao thông là nhiệm vụ trọng tâm, do ngành Công an chịu trách nhiệm chính, phát triển hạ tầng là khâu đột phá cân phải có cơ chế, chính sách phù hợp để huy động các nguồn lực đầu tư, xây dựng các công trình giao thông trọng điểm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, do ngành Giao thông vận tải chịu trách nhiệm chính. Luật Giao thông đường bộ 2008 hiện tại chưa giải quyết được các vấn đề này, còn thiếu nhiều các chính sách về quản lý phương tiện, người điều khiển phương tiện, tổ chức an toàn giao thông, giải quyêt ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát, phát hiện, xử lý vi phạm...; việc xây dựng hạ tầng phải phụ thuộc vào rất nhiều Luật khác như Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch, Luật đất đai... nếu chỉ dựa vào Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì không thực hiện được do thiếu các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp.

Việc tách thành 02 đạo luật là phù họp với xu thế chuyên sâu hóa trong xây dựng pháp luật hiện nay (nhiều đạo luật cũ đã được tách riêng thành các đạo luật chuyên biệt như: Luật Đầu tư cũ tách ra thành Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đổi tác công tư. Luật Khiếu nại, Tố cáo tách ra thành Luật Tố cáo và Luật Khiếu nại...)

Việc tách ra thành 02 đạo Luật phù hợp với kinh nghiệm xây dựng pháp luật của nhiều nước trên thế giới, theo đó lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông được điều chỉnh trong đạo luật riêng, tách bạch với lĩnh vực hạ tầng và vận tải được điều chỉnh bằng các đạo luật riêng.(qm)

                                    Nguồn: Tổng hợp


VỀ SỰ CẦN THIẾT TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH LUẬT BẢO ĐẢM TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

                                                                        Ảnh minh họa

    Tại phiên họp trực tuyến của kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã nghe Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm trình bày tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bộ trưởng Tô Lâm khẳng định việc xây dựng, ban hành Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là cần thiết. Bởi vì:

    - Qua tổng kết 10 năm thi hành Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cho thấy Luật có phạm vi điều chỉnh gồm cả hai lĩnh vực là bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ và xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý vận tải đường bộ.

    - Việc xây dựng Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là một trong những biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả chỉ đạo của Ban Bí thư tại Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 và Kết luận số 45-KL/TW ngày 01/02/2019, trong đó xác định: Công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông là một nội dung của công tác bào đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hộì và đề ra một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là: Tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự, an toàn giao thông phù hợp với tình hình mới. 

    - Thực hiện nghiêm chỉ đạo cùa Chính phủ tại Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 17/02/2020, Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 14/5/2020 và Nghị quyết số 123/NQ-CP ngày 31/8/2020, trong đó Chính phủ đã thống nhất về sự cần thiết xây dựng, ban hành Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Đồng thời cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền sống, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người.

    - Khắc phục bất cập cùa Luật Giao thông đường bộ năm 2008 đồng thời điều chình hai lĩnh vực khác nhau là: Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông thuộc nội dung của bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và đầu tư, xây dụng, phát triển, quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, vận tải đường bộ thuộc lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, dẫn đến không thể quy định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng nhiều nội dung quan trọng thuộc cả hai lĩnh vực. Đối với lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ còn nhiều nội dung thiếu cụ thể, chưa sát với thực tiễn.

    - Thực tiễn tình hình giao thông hiện nay có rất nhiều vấn đề đang đặt ra cần phải giải quyết: (1) tai nạn giao thông vẫn ở mức cao, trong 10 năm chết hơn 100.000 người (đất nước hoà bình mà chết như chiến tranh); (2) kiến thức, kỹ năng điều khiển phương tiện, ý thức chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông của nhiều người tham gia giao thông còn rất kém; (3) tình trạng coi thường pháp luật, vi phạm trật tự, an toàn giao thông; (4) ùn tắc giao thông vẫn rất phức tạp, nhất là tại các thành phố lớn; (5) tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên các tuyển giao thông diễn biến hết sức phức tạp, ảnh hường đến sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và hình ảnh của Việt Nam với bạn bè quốc tế.

    - Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong công tác quàn lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

    - Phù hợp với xu thế chuyên sâu hóa trong xây dựng pháp luật của nước ta hiện nay, phù hợp với Công ước Viên năm 1968 và kinh nghiệm xây dựng pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.

     Bởi vậy, việc xây dựng và ban hành Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là hết sức cần thiết, đặt yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông lên một bước quan trọng, giải quyết tình hình giao thông hết sức phức tạp đang diễn ra hiện nay.(qm)

Nguồn: Tổng hợp

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2020

ÔNG NGUYỄN VĂN BÌNH BỊ ĐỀ NGHỊ XEM XÉT KỶ LUẬT


 ÔNG NGUYỄN VĂN BÌNH BỊ ĐỀ NGHỊ XEM XÉT KỶ LUẬT

Kết luận của Ủy ban kiểm tra trung ương:

Sau khi xem xét kết quả thẩm tra, xác minh nội dung phản ánh liên quan đến đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, UBKT Trung ương nhận thấy:

Trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đồng chí Nguyễn Văn Bình đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, quy định, quyết định về hoạt động tín dụng ngân hàng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục; nhiều cán bộ, đảng viên của Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo chủ chốt một số tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự.

Những vi phạm, khuyết điểm của đồng chí Nguyễn Văn Bình là nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, của Ngân hàng Nhà nước và cá nhân đồng chí. 

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm và quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, UBKT Trung ương đề nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Văn Bình.

Nguồn: UBKTTW

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

DỰ ÁN SẢN XUẤT, CẤP VÀ QUẢN LÝ CCCD

     Ngày 03/9/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1368/QĐ-TTg về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD.

Thông tin chung về dự án​

- Tên dự án: Sản xuất, cấp và quản lý CCCD.

- Cơ quan chủ quản: Bộ Công an.

- Chủ đầu tư: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.

- Mục tiêu của dự án: Xây dựng Cơ sở dữ liệu CCCD thống nhất trên toàn quốc, thực hiện thu nhận và quản lý dữ liệu đăng ký CCCD tự động trên cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin giúp lưu trữ, truy suất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về CCCD, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch dân sự; hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; góp phần phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sử dụng thẻ chíp điện tử thay cho thẻ mã vạch như hiện nay.

- Quy mô, nội dung đầu tư: Xây dựng hệ thống CCCD thống nhất trên toàn quốc, được triển khai và quản lý tập trung tại Bộ Công an, gồm: + Đầu tư phần cứng: Hệ nhận dạng sinh trắc học, máy chủ, máy trạm, thiết bị ngoại vi, thiết bị lưu trữ, thiết bị bảo mật; + Đầu tư phần mềm: Phần mềm thương mại, phần mềm ứng dụng; + Dịch vụ đào tạo, triển khai thiết lập hạ tầng.

- Đối tượng thụ hưởng của dự án: Lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trên phạm vi cả nước.

- Địa điểm đầu tư: Bộ Công an; Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công an các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Thời gian thực hiện: 2020 - 2022.

Dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sẽ được triển khai đồng bộ song song cùng dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để tận dụng tối đa các hạng mục dùng chung nhằm đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, tránh trùng dẫm, lãng phí. Điểm nổi bật của dự án là sẽ thay đổi cách thức thu thập vân tay và sử dụng thẻ chíp điện tử. ​

Vị trí, vai trò của dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD đối với công tác quản lý nhà nước, phục vụ Nhân dân và ý nghĩa, vai trò trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm ​Dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần cải cách hành chính phục vụ Nhân dân, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Công an nhân dân, cụ thể: ​

- Góp phần cải cách hành chính, phục vụ Nhân dân: Bộ Công an xây dựng hệ thống sản xuất, cấp và quản lý CCCD tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại từ Trung ương tới Công an các địa phương và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nên các thông tin của công dân thường xuyên được thu thập, cập nhật, khai thác, chia sẻ nên khi công dân làm thủ tục đề nghị cấp, đổi, cấp lại thẻ CCCD rất thuận tiện, công dân có thể đến bất cứ điểm tiếp dân nào của cơ quan Công an cũng có thể thực hiện việc cấp CCCD mà không nhất thiết phải về nơi đăng ký thường trú. Bộ Công an đồng thời triển khai các dịch vụ công trực tuyến cấp CCCD, cấp Giấy xác nhận số CMND trực tuyến, cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử... Do đó sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho công dân và tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí, đồng thời khi thực hiện các giao dịch khác cũng rất thuận tiện và nhanh chóng.

- Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước: Việc triển khai thành công dự án sẽ tạo dựng được cơ sở dữ liệu về thông tin của công dân trong toàn quốc với độ chính xác cao, đầy đủ và khả năng truy nguyên đồng nhất mỗi công dân được cấp 01 số thẻ CCCD cũng là Số định danh cá nhân; trên thẻ CCCD được gắn chíp điện để lưu trữ thông tin cá nhân của công dân để các Bộ, ngành, đơn vị có thể khai thác thông tin và ghi thông tin trên chíp phục vụ quản lý nhà nước. ​

- Hiệu quả về kinh tế và xã hội: ​Việc triển khai thành công dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội rõ rệt. Công dân được đảm bảo quyền lợi về CCCD phục vụ giao dịch cá nhân nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí, công sức đi lại; cơ quan nhà nước sẽ được hưởng những dịch vụ công tốt nhất, được kết nối, khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý của mình nhanh chóng, chính xác, độ tin cậy cao; các giao dịch của người dân rất thuận tiện (sử dụng chíp điện tử, dữ liệu dân cư liên thông các Bộ, ngành) dần tiến tới các giao dịch trong Chính phủ điện tử, nền kinh tế số hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong phát triển các hoạt động kinh tế, xã hội; minh bạch hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian trả kết quả của các dịch vụ hành chính công.

- Nâng cao hiệu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND. ​Qua triển khai dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD, thông tin của người dân từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ được thu thập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu CCCD và trao đổi với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để thống nhất, quản lý. Thông tin có độ chính xác cao, có ảnh chân dung, vân tay lăn và các thông tin cơ bản của công dân do vậy phục vụ rất đắc lực cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, truy nguyên các thông tin như truy tìm tung tích nạn nhân, mất tích, chết không rõ nguyên nhân, nhận diện khuôn mặt, đối sánh vân tay, quản lý danh sách đối tượng theo quy định; phục vụ cơ quan điều tra thực thi các hoạt động điều tra, truy xét theo quy định một cách nhanh chóng, chính xác.​ ​Hệ thống được thiết kế mở có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống khác của ngành Công an như Cơ sở dữ liệu về tội phạm, nhận diện khuôn mặt, hộ chiếu, truy nã, truy tìm... và tạo thành một cơ sở dữ liệu liên thông, thống nhất, đầy đủ của Bộ Công an góp phần xây dựng các chương trình, kế hoạch để Bộ Công an ra được các quyết nghị về tác chiến, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tổ chức các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, truy nã, truy tìm, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng CAND... ​

Tiến độ, thời gian hoàn thành các hạng mục chính của dự án ​(1). Tháng 11/2020, triển khai thu nhận, cấp CCCD gắn chíp điện tử, thu nhận vân tay lăn của công dân trên toàn quốc. ​(2). Tháng 12/2020, Bộ Công an sản xuất, cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử trên toàn quốc. ​(3). Ngày 26/02/2021, tổ chức Lễ bấm nút, công bố Hệ thống sản xuất, cấp và quản lý CCCD và CSDL quốc gia về dân cư. ​(4). Tháng 6/2021, Bộ Công an tổ chức Hội nghị Tổng kết Dự án và thực hiện các thủ tục quyết toán dự án theo quy định. ​

Việc thu nhận vân tay lăn thay cho vân tay phẳng ​Việc thực hiện thu nhận vân tay lăn có những ưu điểm, nhược điểm sau: ​

- Ưu điểm: Có thể thu nhận được vùng vân tay rộng hơn kết nối với tàng thư thủ công giúp cho việc truy nguyên hiệu quả hơn vân tay phẳng (khi lăn đầy đủ ngón tay). ​

- Nhược điểm: Công tác thu nhận hồ sơ khi thu nhận vân tay lăn phức tạp hơn vân tay phẳng; đầu tư lớn hơn; cán bộ cần có kinh nghiệm, chuyên môn để có thể đảm bảo năng suất thu nhận, cấp CCCD; tốc độ, công suất tiếp nhận hồ sơ ở địa phương chậm; tăng chi phí đầu tư; cần phải đầu tư nhiều thời gian đào tạo nhân lực và nguồn nhân lực cũng phải có chuyên môn cao. Cần hình thành một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp lấy vân tay. Do vân tay lăn được thu nhận bằng phương pháp lăn ngón tay trên mặt phẳng của thiết bị nên ngón tay dễ bị trượt, dẫn đến các vân bị chồng nhau, tạo ra các khoảng đen vân tay. ​

Việc thực hiện song hành và tiết kiệm khi thực hiện với dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ​Cơ sở dữ liệu CCCD và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư độc lập nhau về cơ sở pháp lý; đối tượng sử dụng, đối tượng phục vụ và mục tiêu dự án là khác nhau nhưng được lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo về việc xây dựng hệ thống CCCD thống nhất thành một hệ thống với hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Do đó, dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD sử dụng chung với dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư về nhiều hạng mục đầu tư để nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí như: Dùng chung đường truyền; thiết bị tường lửa, định tuyến cấp Trung ương tại Hà Nội và trung tâm dự phòng tại Tp. HCM; dùng chung máy trạm tại địa phương; đối với 16 địa phương đã triển khai cấp CCCD thì sử dụng hạ tầng, máy móc, thiết bị sẵn có...

Tính ưu việt của thẻ CCCD có gắn chíp Thẻ CCCD có gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần…có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân. Đáng chú ý, khi thẻ CCCD gắn chíp điện tử có tích hợp đầy đủ các thông tin, lúc đó người dân đi giao dịch và làm các thủ tục sẽ không phải mang nhiều loại giấy tờ mà chỉ cần dùng thẻ CCCD có gắn chíp thì sẽ thực hiện được các giao dịch. Ngoài ra, việc tích hợp chíp trên CCCD đem lại tính linh hoạt khi cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin trên thẻ sau khi phát hành bởi cơ quan công an. Dữ liệu trên chíp có thể truy cập ngay lập tức mà không bị phụ thuộc vào kết nối mạng thông qua các thiết bị cho phép đọc thông tin trên chíp, giúp cho việc xác thực danh tính được thực hiện ngay lập tức, hạn chế tối đa việc giả mạo danh tính. Thẻ CCCD gắn chíp cũng là xu thế nhiều nước trên thế giới áp dụng vì tính tiện dụng, cũng như tạo sự thuận lợi cho công dân khi thực hiện các giao dịch dịch vụ trực tuyến. Hiện nay, đã có tổng số 70 nước sử dụng thẻ CCCD có gắn chíp, trong đó các nước ứng dụng điển hình như: Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Philipin, Brunei, Ấn Độ, Isarel, Pakistan, UAE, Bangladesh, Tây Ban Nha, Estonia, Cộng hoà Séc, Ý, Hungary, Lithuania, Ba Lan, Latvia, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha, Mexico, Peru, Brazil, Guatemala, Urugoay, Nigeria, Malawi, Ghana, Cameroon.

Phương án bảo mật thông tin cá nhân khi sử dụng thẻ CCCD gắn chíp; khả năng định vị được người sử dụng của loại chíp gắn trên CCCD Chíp sử dụng trên thẻ CCCD tuân thủ quy định bảo mật của thế giới và Việt Nam, trên chíp có thực hiện ký số do vậy khó có thể làm giả, đảm bảo độ tin cậy trong thực hiện các giao dịch. Chíp có khả năng lưu trữ thông tin sinh trắc học (như dấu vân tay) cho phép xác thực đảm bảo chính xác con người. Qua đó, thông tin chủ thẻ được định danh một cách chính xác, giảm thiểu mọi nguy cơ về giả mạo thẻ, đảm bảo an toàn bảo mật nhất là trong các giao dịch tài chính. Khi đề xuất sử dụng thẻ CCCD có gắn chíp điện tử, Bộ Công an đã xây dựng phương án đảm bảo tính bảo mật thông tin được lưu trữ trên chíp; phương án này được các đơn vị chuyên môn đánh giá, nghiệm thu đảm bảo bảo mật trước khi đưa vào phát hành sử dụng rộng rãi trong xã hội.

Việc đảm bảo quyền tự do cá nhân cho công dân khi sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử Việc gắn chíp điện tử trên thẻ CCCD với mục đích là thuận tiện trong các giao dịch hành chính của công dân cũng như phục vụ công tác quản lý nhà nước; nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, hướng tới nền Chính phủ số, chuyển đổi số và xây dựng Chính phủ điện tử, đây là xu hướng tất yếu trong việc phát triển xã hội hiện nay. Chíp được gắn trên thẻ CCCD là để lưu trữ các thông tin của công dân trên thẻ CCCD với mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện các giao dịch hành chính, đi lại, nâng cao hiệu quả của Chính phủ điện tử, Chính phủ số; chíp gắn trên thẻ CCCD không có chức năng định vị, theo dõi để xác định vị trí của công dân. Việc tích hợp, sử dụng thông tin trên chíp tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin.

9. Các trường hợp cần thiết phải cấp, đổi, cấp lại CCCD; các trường hợp không cần thiết cấp, đổi, cấp lại CCCD Ngày 03/9/2020, Dự án sản xuất, cấp và quản lý CCCD đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư dự án và đang thực hiện các công việc phục vụ cho việc cấp thẻ CCCD có gắn chíp điện tử trên phạm vi toàn quốc, dự kiến từ tháng 11/2020. Để tránh lãng phí, góp phần tiết kiệm ngân sách Nhà nước, giảm phiền hà cho công dân khi chuyển từ CMND và thẻ CCCD đang cấp hiện nay sang thẻ CCCD gắn chíp trên phạm vi toàn quốc, trong thời gian này, người dân nếu chưa cần thiết phải cấp, đổi, cấp lại CMND, CCCD thì hãy tạm dừng lại để chờ cấp CCCD có gắn chíp; đối với những trường hợp thực sự cần thiết thì thực hiện cấp, đổi CMND, CCCD, cụ thể: - Những trường hợp cần thiết phải cấp, đổi CMND, CCCD: Là những trường hợp công dân chưa được cấp CMND, CCCD hoặc đã được cấp nhưng bị hỏng, mất, hết thời hạn mà phải thực hiện các giao dịch buộc phải có CMND, CCCD. - Các trường hợp chưa cần thiết: Công dân đã được cấp CMND 9 số, CMND 12 số, thẻ CCCD còn nguyên vẹn và còn thời hạn sử dụng. 10. Về việc đổi thẻ CCCD gắn chíp điện tử Theo quy định của Luật CCCD và pháp luật hiện hành, công dân vẫn được sử dụng 03 loại thẻ (CMND 9 số, CMND 12 số và CCCD mã vạch) đến khi thẻ hết giá trị sử dụng. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong thực hiện các giao dịch, cải cách hành chính hướng tới thực hiện Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Bộ Công an khuyến khích công dân thực hiện đổi sang sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử khi dự án Sản xuất, cấp và quản lý CCCD được triển khai.

Những nội dung mới trong dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi)


Sau kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá XIV vừa qua, dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) được chỉnh lý gồm 07 chương, 39 điều và có những nội dung mới, sửa đổi, bổ sung so với Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) như sau:

(1) Dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) quy định thay thế việc quản lý cư trú (thường trú, tạm trú) từ phương thức thủ công bằng sổ giấy sang phương thức quản lý hiện đại bằng công nghệ thông tin; cụ thể là quản lý cư trú bằng việc sử dụng mã số định danh cá nhân để truy cập, cập nhật, điều chỉnh trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Thông tin về nơi thường trú, nơi tạm trú của mỗi công dân đều là trường thông tin dữ liệu số được cập nhật, điều chỉnh trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; cơ quan, tổ chức và công dân có thể khai thác, sử dụng để phục vụ giao dịch dân sự, giải quyết các thủ tục hành chính... Dự thảo Luật đã bỏ các quy định về: Sổ hộ khẩu, Sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia dình, cấp cho cá nhân, giấy chuyển hộ khẩu, các hành vi bị nghiêm cấm (thuê, cho thuê, làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú); quyền được cấp, cấp lại, đổi Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú... Việc đổi mới phương thức quản lý theo hướng này giúp công dân không cần mang theo các loại giấy tờ có chứa thông tin cá nhân để thể hiện trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cũng như không phải sao y chứng thực các loại giấy tờ này khi thực hiện các thủ tục hành chính hoặc tham gia giao dịch dân sự mà chỉ cần mang theo thẻ Căn cước công dân hoặc cung cấp mã số định danh cá nhân cho cơ quan chức năng để thực hiện.

(2) Sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục đăng ký cư trú theo hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính Việc thực hiện quản lý dân cư thông qua phương thức mới bằng mã số định danh cá nhân trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú sẽ dẫn đến việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ 13 nhóm thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký, quản lý cư trú, tạm trú của công dân; do vậy, dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) đã bỏ các thủ tục như: Cấp đổi, cấp lại Sổ hộ khẩu; cấp giấy chuyển hộ khẩu; cấp đổi, cấp lại Sổ tạm trú... đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số thủ tục như tách Sổ hộ khẩu (được xác định theo hướng đây là việc tách hộ gia đình), huỷ bỏ kết quả đăng ký thường trú, tạm trú trái pháp luật. Bên cạnh đó, do sử dụng phương thức quản lý hiện đại này nên thời hạn giải quyết đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú cho công dân cũng đơn giản, rút ngắn về cả thủ tục và thời gian. Nếu như hiện nay thời gian giải quyết đăng ký thường trú là 15 ngày thì theo dự thảo Luật sẽ tối đa là 07 ngày.

(3) Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ các quy định riêng về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương (tức là, không có quy định riêng về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương; việc đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là như nhau, không có sự phân biệt và được áp dụng chung, thống nhất trên toàn quốc). Quy định này nhằm tạo sự bình đẳng trong quản lý cư trú đối với mọi công dân; bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đang sinh sống trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung ương nhưng chưa được đăng ký thường trú mặc dù có chỗ ở hợp pháp.

(4) Ngoài các trường hợp bị xoá đăng ký thường trú như hiện nay, xuất phát từ thực tiễn và để nâng cao hiệu quả quản lý về cư trú, nắm đúng thực tế số hộ, số người thường trú trên địa bàn, phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hoạch định, thực hiện chính sách an sinh xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người có liên quan, dự thảo Luật đã bổ sung một số trường hợp xoá đăng ký thường trú:

- Người vắng mặt tại nơi thường trú trên 12 tháng liên tục trừ trường hợp đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác, đã khai báo tạm vắng hoặc xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không phải để định cư.

- Người đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam; bị tước, bị huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

- Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở là do được thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã hết thời hạn thuê, không được mượn, không được ở nhờ nữa.

 - Người đăng ký thường trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, kê biên, tịch thu và người đã bán nhà, tàu, thuyền, phương tiện khác là chỗ ở dùng để đăng ký thường trú bị xoá đăng ký thường trú sau 12 tháng kể từ ngày bán nhà, tàu, thuyền, phương tiện đó; trừ trường hợp được chủ sở hữu tài sản mới đồng ý cho tiếp tục đăng ký thường trú.

(5) Bổ sung quy định để quản lý đối với trường hợp công dân không đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú để đảm bảo quản lý tốt hơn đối với nhóm người này (đây là những người chưa đăng ký thường trú, tạm trú ở đâu như người di cư, sống lang thang, không có giấy tờ tuỳ thân, không có chỗ ở hợp pháp hoặc có chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng không được chủ hộ đồng ý cho đăng ký thường trú, tạm trú...). Việc bổ sung quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân, giúp cơ quan nhà nước nắm được tình hình của những người này và hỗ trợ họ.