Thứ nhất, khắc phục triệt để tình trạng song
trùng hệ thống tổ chức, bộ máy vốn tồn tại rất lâu ở nước ta giữa
hệ thống tổ chức đảng (lãnh đạo và cầm quyền) với hệ thống tổ
chức chính quyền nhà nước (quản lý) dẫn tới trùng lắp, chồng chéo,
lẫn lộn về chức năng và nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm, làm
hạn chế chất lượng và hiệu quả hoạt động và gây lãng phí nguồn
lực.
Hơn 30 năm đổi mới vừa qua, với nỗ lực đổi mới hệ thống
chính trị, Đảng ta đã nhận rõ tình huống này trong thiết kế mô hình
tổ chức trong điều kiện Đảng cầm quyền và đã nhiều lần giải quyết,
đã đạt được những bước tiến nhất định, song trước yêu cầu phát
triển vẫn cần phải tiếp tục khắc phục thật triệt để tính song
trùng tổ chức đó. Đây là đầu mối cần giải quyết trong đổi mới hệ
thống chính trị và tinh gọn tổ chức. Về thực chất, phải khắc phục
tình trạng “nhà nước hóa”, “hành chính hóa”, “quan liêu hóa” trong tổ
chức, trong phương thức hoạt động, trong lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước và xã hội. Cần phải làm rõ Đảng và Nhà nước là hai thực
thể chính trị, hai chủ thể chính trị khác nhau: lãnh đạo của Đảng
khác quản lý của Nhà nước. Đây là sự khác nhau về vai trò, chức
năng, nhiệm vụ. Đảng cũng khác Nhà nước về mô hình tổ chức, về
phương thức hoạt động, về những thể chế trong hoạt động. Từ đó Đảng
cũng phải khác Nhà nước về yêu cầu nhân lực, về phương pháp, phong
cách làm việc, hoạt động giữa cán bộ đảng với công chức nhà nước.
Đây là những vấn đề chưa được quan tâm làm rõ. Đảng và Nhà
nước thống nhất trong mục tiêu, đối tượng phục vụ (xã
hội và nhân dân) nhưng không đồng nhất Đảng với Nhà
nước về tổ chức và cán bộ.
Đảng chú trọng vào đường hướng chiến lược của phát
triển (trong Cương lĩnh, đường lối), trong hệ quan điểm, nguyên tắc về
ý thức hệ, về xây dựng Đảng, về lãnh đạo công tác tổ chức và cán
bộ, về giáo dục, thuyết phục... trong khi đó Nhà nước phải thực sự
là quyền lực do nhân dân ủy quyền trong quản lý, có chức năng chính
trị và chức năng xã hội (phục vụ nhân dân), chú trọng thể chế hóa
quyền lãnh đạo của Đảng, chất lượng đội ngũ công chức, sức mạnh
của quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thể chế dân chủ - pháp
quyền.
Đảng cần chuyên gia ở tầm chiến lược hơn là thiên về bộ
máy như hệ thống công quyền. Bộ máy đảng phải phản ánh đặc thù của
Đảng và đặc trưng của lãnh đạo chính trị chứ không “đồng dạng” với
bộ máy nhà nước.
Tóm lại, để tinh gọn tổ chức, trước hết phải làm thật
rõ quan hệ giữa Đảng với Nhà nước trong điều kiện Đảng cầm quyền và
Nhà nước pháp quyền, với yêu cầu rất cao về dân chủ - pháp quyền,
mọi tổ chức, hoạt động và hành vi phải trên tinh thần hợp
hiến, hợp pháp.
Tinh gọn tổ chức được đặt ra không chỉ với hệ thống công
quyền (Nhà nước) mà với ngay bản thân Đảng và tất cả các tổ chức
trong hệ thống chính trị, ở tất cả các cấp độ. Tùy thuộc vào tính
chất và yêu cầu công việc mà trình tự thực hiện tinh gọn tổ chức
có thể cân nhắc, tính toán ở Trung ương hay ở địa phương và cơ sở.
Thứ hai,
tinh gọn tổ chức là sắp xếp lại tổ chức và bộ máy, giảm đầu mối,
giảm biên chế, không chỉ nhân sự làm việc chuyên môn mà còn nhân sự
lãnh đạo, quản lý. Tình trạng quá nhiều cấp phó, lại có nơi
quá nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, giữ chức vụ, cả “hàm” chức vụ
nhưng quá ít nhân viên như đã từng xảy ra là phi lý, nghịch lý không
thể không xử lý.
Sẽ không có một nền kinh tế nào, dù tiềm lực mạnh đến
đâu có thể nuôi nổi bộ máy cồng kềnh tầng nấc. Nó cũng trái với
tinh thần dân chủ và mục đích phục vụ dân, trái với đạo lý, bởi
mọi chi phí lớn nhỏ cho bộ máy đều lấy từ tiền đóng thuế của nhân
dân. Tinh gọn bộ máy tổ chức là hợp lòng dân, hợp với yêu cầu và
đạo lý của phát triển. Song tinh gọn tổ chức phải đi liền với tinh
giản biên chế, phải bảo đảm chất lượng nhân lực, chất lượng công
việc, chất lượng hoạt động vì mục đích chất lượng phục vụ nhân dân
và cuộc sống của người dân.
Do đó, tinh gọn tổ chức không phải là phép cộng số học,
là thay đổi cơ học giản đơn, tách rời lượng với chất. Nó phải thực
sự là tổ chức lại, cơ cấu lại tổ chức theo đúng chức năng, nhiệm vụ.
Kinh nghiệm đã qua (mà phần lớn là không thành công)
của việc “tách - nhập”, “nhập - tách” các cơ quan, các địa phương ở
nước ta, gây nhiều xáo trộn, lãng phí, tốn kém, giảm hình thức về
số lượng đầu mối tổ chức nhưng không tăng chất lượng hoạt động, nhất
là rơi vào nghịch lý biên chế không giảm mà lại tăng lên, là vấn đề
rất nhức nhối phải tiếp tục xử lý.
Thứ ba,
tiếp tục đổi mới, nghĩa là thay đổi cơ chế, chính sách cùng với
hoàn thiện thể chế, tạo động lực cho tinh gọn tổ chức, phá vỡ các
rào cản, thậm chí cả sức ỳ hữu hình lẫn vô hình trong thiết kế và
thực thi hệ thống tổ chức mới, công tác tổ chức, công tác cán bộ
theo yêu cầu mới. Cái hỏng, cái bất cập của cơ chế cùng với sự lạc
hậu của chính sách là ở chỗ không khuyến khích con người say mê làm
việc, tìm tòi sáng tạo, phát huy tài năng trở thành chuyên gia mà
trái lại, dù ngoài ý muốn vẫn chỉ khuyến khích con người ta chạy
theo con đường trở thành quan chức, tìm kiếm danh lợi, chức quyền,
bổng lộc. Nó tất yếu sinh ra những tiêu cực chạy chọt các mối quan
hệ, cơ chế “xin - cho” dù vô hình, bất thành văn nhưng rất tai hại. Nó dẫn
tới lợi dụng, lạm dụng quyền lực, chức trách, cương vị, các liên kết
“nhóm lợi ích”, “lợi ích nhóm” bất minh, bất chính. Không triệt để
sửa chữa cơ chế, chính sách, không siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chế
tài trong quản lý, không chú trọng chất lượng cán bộ, phẩm giá nhân
cách, đạo đức công chức, kỷ luật công vụ thì không thể giải quyết
thực chất vấn đề tinh gọn tổ chức. Mấu chốt vẫn là con người, “đầu
tiên là công việc với con người” (Hồ Chí Minh viết trong Di chúc của
Người).
Thứ tư, khắc
phục tình trạng công chức hóa toàn bộ cán bộ đảng trong các
cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc cũng như các đoàn thể chính trị - xã hội
trong hệ thống chính trị.
Theo đúng nghĩa chặt chẽ của nó, công chức chỉ có trong
bộ máy công quyền, khu vực nhà nước. Cán bộ đảng, cán bộ Mặt trận
Tổ quốc, đoàn thể là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp,
làm công tác xã hội, phải có cách ứng xử khác với họ để không rơi
vào công chức hóa, hành chính hóa, quan liêu hóa. Phải có hệ thống
thang bảng lương khác, các chế độ, chính sách khác thích ứng với
đối tượng này, nó cũng liên quan tới hoạt động dân vận, giám sát,
phản biện sao cho thực chất chứ không hình thức.
Thứ năm,
theo tinh thần cải cách “Thà ít mà tốt” phải xem xét lại cấu
hình của hệ thống chính trị nước ta, ở tất cả các cấp độ.
Có nên có quá nhiều tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị như
hiện nay hay không? Cơ cấu hệ thống đảng nên có những tổ chức nào, cơ
cấu nhà nước, nội các chính phủ sẽ “cấu trúc lại” ra sao, các đoàn
thể hiện nay từ Trung ương tới địa phương nên tổ chức và hoạt động ra
sao trong Nhà nước pháp quyền, các hoạt động của người dân trong các
tổ chức đoàn thể cần được tạo điều kiện như thế nào để phù hợp với
xu hướng dân chủ trực tiếp sẽ ngày càng được mở rộng.
Tựu trung, để đổi mới chính trị và hệ thống chính trị
đồng bộ với đổi mới kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, xã hội
ổn định và phát triển lành mạnh, phải giải quyết vấn đề bức xúc
về tinh gọn tổ chức, mà trước hết Đảng lãnh đạo và cầm
quyền phải tự đổi mới chính mình để tạo xung lực, động lực cho đổi
mới Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung.
Văn kiện Đại hội XII đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị
đó của Đảng, tạo tiền đề rất thuận lợi cho việc thực hiện
cuộc cách mạng về tổ chức ở nước ta. Văn kiện nhấn
mạnh: “Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng
và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ”(1)... “Tiếp tục tổng
kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ
mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều
kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy
nhất cầm quyền; các nguy cơ cần phải phòng ngừa đối với đảng cầm
quyền”(2).
Đó là những vấn đề lý luận và thực tiễn cốt yếu cần quan tâm nhận
thức đúng, xử lý tốt về thể chế, thiết chế (tổ chức, bộ
máy), cơ chế, chính sách, nguồn lực và phân bổ nguồn lực để
thực hiện tinh gọn tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ
thống chính trị ở nước ta./.
ST
0 nhận xét:
Đăng nhận xét