NGƯỜI ĐƯA TIN 289

NƠI CHIA SẺ THÔNG TIN ĐA CHIỀU VỀ MỌI VẤN ĐỀ
  • TRƯỜNG SA - HOÀNG SA VÀ NHỮNG CHUYỆN CHƯA BAO GIỜ KỂ

    Hôm trước, mình đặt câu hỏi về việc các bạn suốt ngày phê phán Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam "nhai đi nhai lại" các thông điệp phản đối khi Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, vậy theo các bạn chúng ta phải làm gì?

  • NGUYỄN VĂN HÓA - TỪ CON ĐƯỜNG PHẠM TỘI BÁN NƯỚC ĐẾN CON ĐƯỜNG VÀO NHÀ GIAM

    Năm 2013, Nguyễn Văn Hóa đã lập tài khoản Facebook “Nguyễn Văn Hóa (Maria Luygonjaga)” tại địa chỉ www.facebook.com/Nguoidaxatoi để kết bạn, trao đổi thông tin với các đối tượng như Lê Đình Lượng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Hoàng Đức Bình.

  • NHẬN BIẾT THỦ ĐOẠN MỚI CỦA KẺ THÙ ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN

    Trong tình hình mới, các thế lực thù địch vẫn luôn câu kết chặt chẽ với nhau để thúc đẩy từ “diễn biến hòa bình” sang “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, chống phá Đảng, Nhà nước và giai cấp công nhân Việt Nam với cấp độ và cường độ ngày càng quyết liệt, thâm hiểm hơn.

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

“VỊ" - MỘT SẢN PHẨM RÁC CỦA ĐIỆN ẢNH

 

Mới đây, bộ phim “Vị”, có tựa đề tiếng Anh là "Taste" chính thức bị cấm phổ biến tại Việt Nam, bị cấm chiếu trên toàn Việt Nam và thế giới. Đây có lẽ là bộ phim nhận án phạt nặng nhất trong lịch sử điện ảnh Việt Nam. Và đội ngũ làm phim thì cố ý lấp liếm đi phần kịch bản, còn các “con giời” lại lao vào chửi bới, miệt thị, khóc thuê và bênh vực cho rằng một “tác phẩm nghệ thuật” “phản ánh sự thực” xã hội hay “tuyệt tác điện ảnh” Việt Nam đã bị nhấn chìm.

Phim nói về một cầu thủ bóng đá gốc châu Phi sang Việt Nam, anh không tìm được đội bóng nào. Sau đó anh sống chung, "quan hệ" với cả 4 người phụ nữ trung niên cao tuổi Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các cảnh sinh hoạt mà các diễn viên không hề mặc gì trên người.

Đơn vị kiểm duyệt xác nhận bộ phim không thể bị cắt bỏ vì “cảnh khỏa thân trực diện kéo dài”, lên tới 30 phút với các cảnh "quan hệ" và có thông tin là lên tới 45 phút ở các cảnh sinh hoạt. Vì những chi tiết này quá dài nên cũng không thể chỉnh sửa được, cắt ghép lại được. Và đó là lý do vì sao “Vị” bị cấm chiếu không những chỉ ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Ngoài ra còn bị cấm phổ biến tại Việt Nam - tức là cấm tuyên truyền, trình chiếu độc lập, hoặc trên mạng... trừ khi có văn bản riêng được dùng cho nghiên cứu hoặc điều tra.

Ngoài ra, ngay khi được công chiếu, bộ phim đã vướng một số chỉ trích, cáo buộc khi sử dụng các diễn viên có tuổi đóng các cảnh khỏa thân tập thể. Điều này rõ ràng không phù hợp với văn hóa Việt Nam và văn hóa Á Đông nói chung.

Ngay đến trên thế giới, bộ phim còn gần như không được các nhà phát hành độc lập đề xuất mua bản quyền và phim cũng bị chiếu cực kỳ giới hạn tại chính Liên hoan Phim Berlin. Bộ phim rất thiếu sự phù hợp để đem ra rạp chiếu phim đại chúng, một giải thưởng ăn liền ăn may hữu nghị và có cả chục bộ phim được giải này, chứ không phải là giải bộ phim hay nhất, kịch bản xuất sắc nhất....

Hiện nay, có rất nhiều các bộ phim bị cấm phát hành tại các rạp phim trên thế giới, từ Mỹ, EU, Nhật, Hàn... đều có hết. Và nguyên nhân của tất cả các bộ phim này đều chỉ gói gọn trong một từ "rác điện ảnh". Và không thể cứ mãi mang hai chữ "nghệ thuật" ra để bao biện, vì đa phần công chúng không thể "thấm" được thứ "nghệ thuật" xúc phạm nghiêm trọng hình ảnh con người phụ nữ Việt Nam, đi ngược lại với truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung.



#gocnhinnguoidalat

 

Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm: Cần loại bỏ người có động cơ vị kỷ, lợi ích nhóm

 

Bên cạnh việc xây dựng cơ chế để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung thì cũng cần có “bộ lọc” những người lợi dụng, nhân danh đột phá, sáng tạo nhưng vì động cơ vị kỷ, lợi ích nhóm.

Cần bộ lọc những người vì động cơ vị kỷ

Đổi mới, đột phá là phá những cái cũ kỹ, những điều không còn phù hợp, nhưng nếu làm không khéo thì chính những đổi mới, đột phá đó dễ ảnh hưởng đến những quy định, chính sách chung.

Bởi thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển, có những quy định, chính sách đôi khi chưa bao trùm hết, chưa theo kịp thực tiễn cuộc sống, thậm chí được coi là lạc hậu, vì thế, nếu soi chiếu theo đúng nguyên tắc sẽ có những vấn đề nhất định về tính kỷ luật.

Những trường hợp đó, khi bị tố cáo, khiếu nại, nếu xem xét một chiều thì có thể có vi phạm nhất định. Nhưng khi xem xét đa chiều, nếu sai sót ấy không phải do bản thân cán bộ cố tình gây ra để trục lợi thì dễ được thông cảm, dễ chấp nhận hơn và tổ chức cần phải bảo vệ họ.

Chính vì vậy, trong Kết luận số 14 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”.

GS.TSKH Phan Xuân Sơn (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, ngoài những yêu cầu chung bảo đảm quy chế, quy định, luật pháp, cần có “lối thoát” để những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung không gặp phải hệ lụy tiêu cực, sự nghiệp bị ảnh hưởng bởi những quy định cứng nhắc. Lợi ích chung ở đây được hiểu là không vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ mà vì lợi ích của Đảng, đất nước và nhân dân.

Trong lịch sử, ở mỗi thời kỳ đều có cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, song cũng có giai đoạn khi cơ chế chưa tháo gỡ, họ phải chịu nhiều hệ lụy tiêu cực, thậm chí bị kiểm điểm, kỷ luật. Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14 được nhiều người kỳ vọng sẽ “cởi trói” cho những cán bộ có tư duy sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm.

“Việc Bộ Chính trị ban hành quy định, cơ chế bảo vệ cán bộ là một tiến bộ. Song cũng đặt ra yêu cầu cơ chế đó phải như “con mắt thần” có thể nhìn rõ cán bộ “đi sai bước”, vì không phải lúc nào cũng sửa sai được. Việc đổi mới, sáng tạo thì không phải việc nào cũng thành công tuyệt đối ngay từ đầu, chúng ta có thể thử, có thể sai và chấp nhận việc này mà cán bộ không phải chịu hệ lụy tiêu cực về bản thân, sự nghiệp” – ông Phan Xuân Sơn phân tích.

Theo chuyên gia này, bên cạnh phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên đều thực hiện tốt các quy định, cơ chế, chính sách thì cũng có những người lợi dụng kẽ hở, lỗ hổng trong chính sách, quy định để vụ lợi. Vì vậy, bên cạnh việc xây dựng cơ chế, cụ thể hóa bằng những quy định để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung thì cũng cần có “bộ lọc” để lọc những người lợi dụng, nhân danh đột phá, sáng tạo nhưng vì động cơ vị kỷ, “vinh thân phì gia”, “lợi ích nhóm”.

Nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước là luôn tôn trọng, khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên đổi mới, sáng tạo và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung, nhưng cũng hết sức công bằng đối với những sai sót, vi phạm. Trường hợp “núp bóng” sáng  tạo, đổi mới mà phục vụ lợi ích cá nhân thì cần phải xử lý thật nghiêm để răn đe, giáo dục.

Mọi ý tưởng đột phá, đổi mới vì lợi ích chung thì phải có kết quả, sản phẩm cuối cùng phục vụ quốc gia, dân tộc. Để tránh những rủi ro, sai sót có thể xảy ra, trước hết cán bộ, đảng viên phải tuân thủ quy tắc báo cáo với người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi công tác về ý tưởng, kế hoạch của mình. Sau đó tiến hành thảo luận, lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nhất là người dân bị tác động, ảnh hưởng bởi những sáng kiến đó thì cấp ủy, chính quyền mới có căn cứ cho phép hoặc không cho phép triển khai kế hoạch. Và trong quá trình ý tưởng được thực hiện phải có cơ chế kiểm tra, giám sát để kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, phát hiện sớm và kịp thời chấn chỉnh những sai sót, rủi ro có thể xảy ra.

Dám nghĩ, dám làm không có nghĩa là “tiền trảm hậu tấu”

Ông Trần Ngọc Vinh – nguyên Phó trưởng đoàn chuyên trách đoàn ĐBQH TP Hải Phòng khóa XIII, Chủ tịch Hội luật gia Thành phố Hải Phòng cho rằng, cần phân định rõ ràng, cụ thể giữa những người thực sự có ý tưởng đột phá, đổi mới để mang lại sự bứt phá, hiệu quả cho quốc kế dân sinh. Động cơ của họ không vì cá nhân, gia đình, lợi ích nhóm hay ngộ nhận, “núp bóg”, nhân danh dám nghĩ, dám làm để làm liều, thực hiện ý đồ của bản thân.

Đề cập việc kỷ luật cán bộ thời gian qua làm cho kỷ cương công vụ ngày càng được siết chặt, ông Trần Ngọc Vinh cho rằng, thực tế cũng xuất hiện tâm lý sợ mắc sai lầm, khuyết điểm, sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, dẫn đến tình trạng co cụm, đùn đẩy trách nhiệm khiến công việc không “chạy”.

Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14 trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết, tạo niềm tin vững chắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên dấn thân, tiên phong, đi đầu trong quá trình đổi mới, sáng tạo để tạo nên những đột phá.

Theo Phó trưởng đoàn chuyên trách đoàn ĐBQH TP Hải Phòng khóa XIII, dám nghĩ, dám làm không có nghĩa là làm liều, làm theo kiểu “tiền trảm hậu tấu”. Cán bộ, đảng viên phải tuân thủ quy trình báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét, bảo vệ. Còn trường hợp thiếu ý thức chấp hành thì sẽ không được bảo vệ và nếu để xảy ra rủi ro, sai sót phải chịu trách nhiệm trước kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước.

“Cán bộ có ý tưởng đột phá, sáng tạo không có nghĩa là muốn làm gì thì làm. Những vấn đề khó, chưa có tiền lệ thì xin chủ trương được thực hiện thí điểm, sau đó mô hình triển khai có hiệu quả thì cho nhân rộng, làm như vậy vừa tránh được rủi ro, vừa đảm bảo an toàn cho cán bộ” – ông Trần Ngọc Vinh nêu ý kiến./.

Kim Anh/VOV.VN

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức… có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan “chẳng đẹp đẽ” gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định… nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng “câu like”, “câu view” hoặc “nói cho bõ tức”…

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc… nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức… Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng “nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng”… Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc… nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo…

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác… vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề…

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ… cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản… cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy… khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng…

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh… rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

NGUYỄN TẤN TUÂN

Về chính sách ngoại giao nhân quyền của Mỹ

 

“Ngoại giao nhân quyền” là từ dùng để chỉ chính sách ngoại giao của Mỹ, lấy vấn đề nhân quyền là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ đối ngoại. Thuật ngữ này được coi là sử dụng lần đầu tiên trong cuốn sách cùng tên của D. Niusơn, xuất bản tại Mỹ năm 1966, miêu tả những quan điểm, động thái của Chính phủ Mỹ liên quan đến vấn đề này và khẳng định Chính phủ Mỹ coi nhân quyền như một công cụ cơ bản để thực hiện chính sách đối ngoại của mình. Thực tế cho thấy, nhận định này là hoàn toàn chính xác, bởi từ lâu nay các Chính phủ Mỹ đều rất quan tâm lợi dụng vấn đề nhân quyền trong hoạt động chính trị, ngoại giao. Đặc biệt, từ sau khi Liên Xô – Đông Âu sụp đổ, họ ngày càng tăng cường khai thác triệt để vấn đề này, trước hết nhằm mục đích xoá bỏ nốt các nước XHCN còn lại trên bản đồ thế giới, sau đó khống chế các nước khác, thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này trong chính sách của Hoa Kỳ là cần thiết.

Những hành động khởi đầu.

Trên đây nêu giả thuyết về thời điểm xuất hiện thuật ngữ “ngoại giao nhân quyền”; tuy nhiên, có lẽ khó xác định một cách chính xác rằng ý tưởng áp dụng vấn đề nhân quyền như một công cụ can thiệp, lật đổ xuất hiện trong đầu các nhà chính trị Hoa Kỳ từ lúc nào.

Nghiên cứu những tài liệu về nhân quyền của Liên Hợp Quốc, có thể thấy ngay từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi nhân quyền trở thành vấn đề được đưa ra bàn luận một cách rộng rãi và thường xuyên trên trường chính trị quốc tế, đã có cơ sở để chứng minh âm mưu của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ, muốn lợi dụng vấn đề này để chống phá các nước XHCN. Không phải ngẫu nhiên mà một người Mỹ, bà Ê-lê-noa Ru-dơ-ven, là chủ tịch đầu tiên của Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc. “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền”- mà bà ta được coi là có công lớn trong việc soạn thảo – trên thực tế phản ánh những mâu thuẫn gay gắt giữa hai hệ thống chính trị thế giới. Liên Xô và nhiều nước XHCN lúc đó đã bỏ phiếu trống khi thông qua văn kiện này, và kể từ lúc đó, cuộc tranh cãi giữa tính phổ biến, tính đặc thù của nhân quyền, giữa tầm quan trọng của các quyền cá nhân với các quyền tập thể bắt đầu nổ ra và tiếp tục mãi đến bây giờ.

Mâu thuẫn giữa hai hệ thống chính trị trong lĩnh vực này biểu hiện cụ thể nhất ở sự ra đời hai công ước: Công ước quốc tế về các quyền dân sự-chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế-xã hội-văn hoá. Việc không thể ban hành một văn bản duy nhất nhằm xác định về mặt pháp lý và cụ thể hoá các nguyên tắc về quyền con người ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948 cho thấy tính chất phức tạp, nhạy cảm của vấn đề. Hai công ước này biểu hiện sự thoả hiệp nhất định khi mà hai hệ thống chính trị có quan điểm rất khác nhau về vị trí, tầm quan trọng của mỗi loại quyền. Thế giới phương Tây đề cao các quyền dân sự-chính trị với ý nghĩa là các quyền của cá nhân, còn các nước XHCN đề cao các quyền kinh tế-xã hội-văn hoá với ý nghĩa nghiêng về các quyền tập thể.

Như vậy, nếu việc đưa vấn đề quyền con người vào nội dung Hiến chương Liên Hợp Quốc được xem là mốc khởi đầu đánh dấu việc hình thành một ngành luật mới: luật quốc tế về nhân quyền, thì việc đề cao các quyền dân sự, chính trị nhằm lợi dụng, phát triển chúng thành một yếu tố nền tảng trong quan hệ đối ngoại có thể coi là việc làm khởi đầu của chính sách ngoại giao nhân quyền của Mỹ; ở đây rõ ràng có sự đánh tráo mục đích rất khéo léo của các nhà ảo thuật chính trị bậc thầy. Thoạt đầu, vấn đề nhân quyền được đưa ra xuất phát từ những ký ức khủng khiếp trong Thế chiến thứ II và nhằm tránh cho nhân loại không phải lặp lại những cảnh tượng đau khổ như vậy nữa. Nhưng ngay sau đó, nó đã bị phương Tây lợi dụng biến thành một vũ khí chính trị, ngoại giao, tư tưởng nhằm chống lại các nước đối lập.

Quá trình phát triển.

Trò ảo thuật nói trên được các đời tổng thống Mỹ nối tiếp nhau thực hiện và nâng dần đến mức độ nghệ thuật. Từ đầu thập kỷ 50, ngay khi đắc cử tổng thống, Aixenhao đã tổ chức “Tuần lễ các nước đòi nhân quyền và giải phóng” hàng năm tại nước Mỹ nhằm khích động phong trào chống CNXH trên thế giới. Vào năm 1961, Kennơđi đã phát biểu rằng vấn đề cơ bản của hoà bình là nhân quyền, và chủ trương “phải lợi dụng triệt để vấn đề nhân quyền để phát huy ảnh hưởng và đạo lý”. Từ năm 1974, vấn đề nhân quyền bắt đầu len lỏi vào lĩnh vực lập pháp, thể hiện ở việc Quốc hội Mỹ thông qua các điều 116 và 502B của Dự luật về viện trợ, quy định: “Mỹ sẽ không cung cấp viện trợ kinh tế, an ninh và quân sự cho bất cứ chính phủ nào “luôn vi phạm nhân quyền”. Sau đó một năm, năm 1975, vấn đề này lại phát triển lên một bước, đánh dấu bằng việc nước Mỹ thành lập Uỷ ban nhân quyền và tuyên bố: nhân quyền là “vấn đề bức thiết nhất của thời đại chúng ta”. Đến thời Catơ, vấn đề nhân quyền thực sự trở thành nội dung cơ bản của học thuyết đối ngoại khi vị tổng thống này coi “nhân quyền là hạt nhân của chính sách đối ngoại”, đồng thời thành lập Cục nhân quyền trực thuộc Bộ Ngoại giao, quy định rõ chức năng của Cục này là thường xuyên báo cáo về tình hình nhân quyền của các nước trên thế giới cho Tổng thống.

Năm 1981, trước tình hình chính sách ngoại giao nhân quyền được triển khai quá lộ liễu, gây những rắc rối chính trị, ngoại giao lớn cho Hoa Kỳ, Rigân buộc phải tuyên bố không tiếp tục thực hiện chính sách này nữa nhằm xoa dịu dư luận quốc tế và trong nước. Tuy nhiên, trên thực tế, Chính phủ Mỹ vẫn ngấm ngầm thực hiện, thậm trí còn mở rộng hơn thông qua một hình thức khác: triệt để lợi dụng diễn đàn Liên Hợp Quốc, diễn đàn các nước G7 để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, đặc biệt là vào hệ thống XHCN. Gắn liền với chiến lược hành động mới, chuyển từ răn đe, kiềm chế bằng quân sự sang diễn biến hoà bình với các nước xã hội chủ nghĩa nhằm giành “chiến thắng không cần chiến tranh”, Ri-gân hạn chế công kích trực tiếp, chuyển sang mượn các diễn đàn quốc tế cho có vẻ “khách quan”, nhưng không hề rời bỏ mục tiêu mà các đời tổng thống trước từng theo đuổi. Vị tổng thống này phát biểu: “Giờ đây, Mỹ cần phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình… coi việc tìm kiếm “xây dựng một trật tự quốc tế, khuyến khích thể chế tự quyết, dân chủ, có nền kinh tế phát triển và nhân quyền”…là mục tiêu chủ yếu của chiến lược toàn cầu”.

Như vậy, bản chất vấn đề không thay đổi, chỉ có cách thức tiến hành thay đổi một cách tinh vi hơn. Cũng trong thời kỳ này, Mỹ rất chú trọng tăng cường các hoạt động tuyên truyền về dân chủ, nhân quyền nhằm vào khối các nước Đông Âu. Từ 1986-1987, chính phủ Rigân đã tăng 97,6 triệu USD kinh phí cho hoạt động của đài “Tiếng nói Hoa Kỳ”, đến năm 1988 lại tăng lên tới 300 triệu USD nhằm thúc đẩy quá trình đa nguyên, đa đảng ở các nước này. Cũng trong năm 1988, thông qua cái gọi là “Quỹ đòi dân chủ toàn quốc”, Mỹ đã viện trợ cho Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan tới 1 triệu USD. Năm 1987, Rigân còn đích thân tới thăm Giáo hoàng La mã để bàn bạc phối hợp hành động trong vấn đề nhân quyền. Năm 1988, Giáo hoàng La mã tấn phong chức giáo chủ ở Tiệp Khắc, kích động tín đồ nước này tấn công vào chính phủ dưới khẩu hiệu “quyền tự do tín ngưỡng”. Busơ lên cầm quyền từ tháng giêng năm 1989, tiếp tục triển khai chính sách ngoại giao nhân quyền mạnh mẽ cả bề rộng lẫn bề sâu nhằm đánh những đòn quyết định xoá bỏ hệ thống XHCN trên thế giới. Ngày 12/5/1989, trong buổi nói chuyện tại Đại học nông nghiệp và cơ giới Texas, Busơ đưa ra chiến lược mới: “Vượt trên ngăn chặn”, kế thừa và phát triển “chiến lược diễn biến hoà bình” trong đó tiếp tục đề cao hơn nữa tầm quan trọng của nhân quyền như là một yếu tố chủ đạo. Điểm cốt lõi trong chiến lược này là đẩy mạnh đấu tranh trên phương diện hình thái ý thức hệ, giương cao ngọn cờ “dân chủ”, “nhân quyền”, từ đó thực hiện thẩm thấu về chính trị, tư tưởng, văn hoá vào các nước XHCN, dần dần khiến các nước này đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, dẫn tới rối loạn và sụp đổ. Đây chính là thời kỳ gặt hái những thành công quá sức tưởng tượng của các nhà ảo thuật chính trị Hoa Kỳ. Ngày 15/6/1989, tổng tuyển cử ở Ba Lan, Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan chỉ giành được hơn 30% số phiếu, Công đoàn Đoàn Kết đứng lên thành lập chính phủ mới, chấm dứt chế độ XHCN tồn tại hơn 40 năm ở Ba Lan. Ngày 25/3/1990, sự kiện tương tự diễn ra tại Hungari, Đảng Công nhân XHCN mất quyền lãnh đạo xã hội. Tại Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari, Rumani cũng gần giống như vậy. ở Rumani, quần chúng nổi dậy lật đổ chính phủ, tử hình cả hai vợ chồng Ceaucescu. Ngày 4/6/1989, hơn 1 triệu sinh viên tràn vào chiếm quảng trường Thiên An Môn; tuy kịch bản của phương Tây lần này thất bại, song phương Tây vẫn không nản chí. Rồi ngày 25/12/1991, vị tổng thống đầu tiên và cũng là cuối cùng của nhà nước Xô Viết đọc bài diễn văn từ chức – Liên bang Xô Viết hoàn toàn tan vỡ.

Bill Clinton và sự kế thừa.

Có lẽ dùng từ “phát triển” thì đúng hơn. Nếu như chính sách ngoại giao nhân quyền dưới thời Busơ tuy đạt được nhiều thành công lớn, nhưng xét về mặt phạm vi, nó chỉ chủ yếu tập trung vào một số nước nhất định (cụ thể là phe XHCN) thì sang đến thời Clinton, nó được phát triển với mức độ, phạm vi mới, có tính chất toàn cầu. Điều này được chứng minh rõ ràng qua một loạt sự kiện. Ngày 15/6/1993, ngoại trưởng Cristophơ phát biểu tại Viên đã khẳng định Mỹ phải “đặt ra một tiêu chuẩn chung nhất về nhân quyền áp dụng đối với tất cả các nước. Mỹ sẽ chống lại bất kỳ nỗ lực nào nhằm sử dụng các truyền thống tôn giáo và văn hoá để làm yếu đi khái niệm nhân quyền quốc tế”. Ngày 21/9/1993, đến lượt Lâycơ, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ khẳng định sự cần thiết phải mở rộng nền tự do, dân chủ kiểu Mỹ trên khắp toàn cầu. Lâycơ còn nói thêm, dân chủ nói ở đây bao gồm tuyển cử đa đảng, tư pháp độc lập và nhân quyền. Lời tuyên bố của hai cộng sự thân cận, phát ngôn viên của Clinton cho thấy Hoa Kỳ đã hướng chính sách ngoại giao nhân quyền sang cả thế giới.

So với các thời kỳ trước, chính sách ngoại giao nhân quyền thời Clinton có mấy đặc điểm sau:

Thứ nhất, gắn nhân quyền với vấn đề dân chủ và thị trường tự do kiểu tư bản chủ nghĩa. Điều này có nghĩa là một chế độ xã hội được coi là bảo đảm nhân quyền chỉ khi chế độ xã hội ấy phát triển theo chế độ kinh tế thị trường tự do và tuân thủ những nguyên tắc của thể chế chính trị theo học thuyết tam quyền phân lập, đa nguyên, đa đảng.

Thứ hai, nhân quyền được chính trị hoá cao độ, được tuyên bố công khai là điều kiện quan hệ ngoại giao, điều kiện để cung cấp viện trợ, ủng hộ, hợp tác hoặc gây sức ép, thậm trí phủ nhận chủ quyền, tấn công nước khác. Đây chính là yếu tố dẫn đến một loạt cuộc tấn công vũ trang của Mỹ và phương Tây vào các quốc gia độc lập, đặc biệt là I-rắc và Nam Tư, từ 1991 đến nay.

Thứ ba, nhân quyền được gắn trực tiếp với tất cả các mối quan hệ quốc tế, từ quan hệ song phương, đa phương đến các quan hệ liên quan đến các tổ chức và thể chế chính trị, tài chính quốc tế. Điều này thể hiện ở việc Hoa Kỳ coi vấn đề nhân quyền là điều kiện cơ bản để thiết lập, duy trì quan hệ quốc tế, cung cấp tài chính cho hoạt động của các thể chế chính trị, tài chính quốc tế, kể cả Liên Hợp Quốc.

Thứ tư, mở rộng, tăng cường phạm vi hoạt động của các tổ chức chuyên trách trên lĩnh vực này, đặc biệt chú ý đến các tổ chức phi chính phủ.

Thứ năm, Quốc hội trực tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác nhân danh nhân quyền; chẳng hạn: phê chuẩn các khoản tài chính cho hoạt động này của chính phủ và giúp đỡ các lực lượng chống đối ở các quốc gia khác, thông qua các lệnh trừng phạt quốc gia nào bị coi là “có vấn đề nghiêm trọng” về quyền con người.

Cho đến nay, có thể thấy tuy không thu được thắng lợi rầm rộ như dưới thời kỳ Busơ, song xét về cường độ và phạm vi, chính sách ngoại giao nhân quyền thời Clinton rõ ràng đã có bước phát triển mới, “toàn cầu hoá” hơn nhiều. Năm 1993, Hoa Kỳ đã hậu thuẫn mạnh mẽ dẫn đến việc thành lập Cao uỷ Liên Hợp Quốc về nhân quyền, một cơ quan có chức năng điều hành trực tiếp các chương trình, hoạt động nhân quyền tại Liên Hợp Quốc. Nó thay thế vị trí của Uỷ ban nhân quyền cũ, song có thêm một số chức năng mới quan trọng hơn nhiều và vị chủ tịch cơ quan này một lần nữa lại là người Mỹ, bà Mary Robinson. Ngày 30/12/1997, trong cuộc họp báo do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức tại Washington, Stroke Talbott – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ nói không úp mở: “Nền tảng cơ bản của chính sách ngoại giao của chúng tôi là khẳng định tất cả các chính phủ phải tôn trọng nhân phẩm và tự do của công dân nước họ…”. Còn John Shattuck, Trợ lý Ngoại trưởng, phụ trách các vấn đề nhân quyền, dân chủ và lao động thì nhấn mạnh: vì còn quá nhiều người ở mọi nơi trên thế giới bị vi phạm nhân quyền và đó là lý do để nước Mỹ tiến hành thiết lập bản báo cáo này và mỗi quốc gia đều nhận được những đánh giá “trung thực, khách quan” về tình hình nhân quyền của nước mình dựa trên những chuẩn mực của Tuyên ngôn nhân quyền thế giới. Bản tin của Nhà Trắng ra ngày 9/12 cùng năm với tiêu đề “Những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy dân chủ và nhân quyền” thì công khai hoá trước thế giới một số số liệu tài chính. Theo đó, mỗi năm nước này chi hơn 500 triệu đô la cho các hoạt động “trợ giúp dân chủ và nhân quyền” ở các quốc gia. Đích thân cả hai vợ chồng Bill Clinton đã nhiều lần “đăng đàn” diễn thuyết về nhân quyền. Trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 50 năm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Clinton tiếp tục nêu rõ, nhân quyền là một yếu tố không thể thiếu trong chính sách đối ngoại của nước này và khẳng định: “Chúng ta đã và đang đi đầu trong việc tăng cường sức mạnh của các thiết chế quốc tế về nhân quyền, bao gồm cả việc thành lập Cao uỷ Liên Hợp Quốc về nhân quyền. Đến nay, chúng ta phải bảo đảm cho Mery Robinson có đủ các nguồn tài lực thực hiện chức trách của mình và tôi cam kết sẽ tăng cường sự ủng hộ chính thức của nước Mỹ cho nỗ lực này”…

Mặt trái của vấn đề, liệu “gậy ông có đập lưng ông”?

Trên đây là những nét khái quát cơ bản về lịch sử và diễn biến chính trong quá trình thực hiện chính sách “ngoại giao nhân quyền” của Mỹ. Tuy nhiên, trong khi phê phán các nước khác trong lĩnh vực nhân quyền, dùng vấn đề này làm cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác thì sự thực về tình hình nhân quyền của nước Mỹ như thế nào?

Trước hết, có thể thấy trong việc đề cao các quyền tự do cá nhân, coi đó như là biểu hiện duy nhất của nhân quyền, Hoa Kỳ không thực sự quan tâm đến thực chất vấn đề mà trước hết nhằm mục đích lợi dụng vấn đề trong cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao, bởi lẽ ngay trong hệ thống pháp luật của Mỹ vẫn tồn tại nhiều điều khoản trái ngược với những nguyên tắc về quyền tự do cá nhân.

Điều 2385 cuốn “Mỹ quốc pháp điển” quy định: ” Bất kỳ ai cố ý hô hào, kích động, khuyến khích lật đổ hay phá rối chính phủ Mỹ và các tổ chức chính quyền cấp dưới đều phải bị tuyên phạt cao nhất tới 20.000 USD, hoặc phải ngồi tù 20 năm. Sau khi mãn hạn tù 5 năm cũng không được Chính phủ và các tổ chức khác tin dùng”. Ngoài ra, có rất nhiều tài liệu chứng minh tình trạng vi phạm các quyền cá nhân ở nước Mỹ hết sức trầm trọng. Năm 1996, tại Bắc Kinh đã đăng một bài báo có tên : “So sánh nhân quyền ở Trung Quốc và nhân quyền ở Mỹ”. Tác giả Ren Yanshi đã đưa ra những số liệu thống kê phong phú về tình trạng vi phạm quyền con người ở Mỹ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là quyền dân sự-chính trị. Vào năm 1998, cũng tại Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Chính trị nhân quyền Mỹ” của tác giả Lục Kính Sinh đề cập một cách toàn diện những sự kiện vi phạm nhân quyền ở nước Mỹ từ khi thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho tới thời điểm những năm cuối thập kỷ 80, trên cơ sở phân tích đến tận gốc rễ ảnh hưởng của các tư tưởng chính trị ở Hoa Kỳ tới vấn đề này. Tháng 10/1998, tổ chức Ân xá quốc tế công bố một báo cáo dài 150 trang về tình hình nhân quyền ở Mỹ, trong đó nêu và phân tích một cách chi tiết, có hệ thống với nhiều chứng cứ về tình trạng vi phạm nhân quyền thường xuyên và tràn lan ở nước này. Cũng trong năm đó, tổ chức này còn cho xuất bản một cuốn sách có cái tên mỉa mai là “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Các quyền cho tất cả mọi người” (United States of America- Rights for All). Cuốn sách gồm 9 chương và nhiều biểu đồ minh hoạ, ảnh chụp các cảnh vi phạm nhân quyền ở Mỹ như cảnh sát đánh đập, hạ nhục những người biểu tình, người tù, ảnh những nạn nhân bị cảnh sát bắn chết, ảnh những tử tù bị trói chặt vào ghế điện… đã thực sự phơi bầy sự thật về tình hình nhân quyền ở Mỹ và vạch trần những luận điệu giả dối trong lĩnh vực này của chính phủ Mỹ.

Điều đáng nói là chính sách ngoại giao nhân quyền không chỉ vấp phải phản ứng ở ngoài nước mà cả phản ứng của dư luận trong chính nước Mỹ. Theo kết quả khảo sát của một tổ chức nhân quyền Mỹ tiến hành trong nước, có tới 63% số người được hỏi cho rằng nạn phân biệt đối xử là phổ biến ở Mỹ mà tầng lớp dân nghèo là nạn nhân thường xuyên. 50% số người được hỏi cho rằng những người già, người tàn tật, người da đen và những nhóm người thiểu số khác ở Mỹ bị phân biệt đối xử một cách có hệ thống. Chính ông giám đốc tổ chức Nhân quyền Mỹ (Human Rights USA) đã thừa nhận: cuộc khảo sát trên chứng tỏ các vấn đề nhân quyền đang tồn tại ngay trong lòng nước Mỹ.

Trong khi lớn tiếng phê phán các nước khác vi phạm các quyền tự do dân chủ thì nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cái gọi là “nền dân chủ kiểu Mỹ” chẳng qua chỉ là nền dân chủ của những kẻ giàu, dân chủ cho một nhúm người, chứ không phải dân chủ cho tất cả mọi người, một điều hoàn toàn trái ngược với nguyên nghĩa của từ này. Có những chứng cứ không thể chối cãi là: thông qua báo cáo tài sản riêng của các thành viên nội các Clinton, người ta thấy hơn một nửa trong số này có tài sản từ 1 triệu đô la trở lên, trong đó có trường hợp tài sản lên tới 80 triệu đô la. Điều tra của tờ Nước Mỹ ngày nay (USA Today) cho biết, bình quân thu nhập của 25 ứng cử viên bộ máy tư pháp mà tổng thống Clinton đưa ra là 1,8 triệu đô la/người. Một số liệu khác cũng cho thấy 34,1% thẩm phán ở Mỹ là những nhà triệu phú, còn tỷ lệ triệu phú trong Quốc hội thì cao hơn bên ngoài đến hàng chục lần. Pháp luật Hoa Kỳ quy định bắt buộc các ứng cử viên vào các cơ quan quyền lực phải sở hữu những khoản tài sản lớn. Rõ ràng, bộ máy quyền lực Mỹ chỉ dành riêng cho những kẻ giàu có.

Một ví dụ nữa, Mỹ là quốc gia luôn khoe khoang với thế giới về “nền báo chí tự do” của họ, đồng thời không tiếc lời công kích các nước khác là bóp nghẹt công luận, chà đạp quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên, kết quả khảo sát của trường đại học Sonoma, bang Canifornia cho thấy, thực chất nền báo chí Mỹ chỉ là công cụ của giới tài phiệt, vì các ông chủ của các tập đoàn đa quốc gia đồng thời cũng là chủ hoặc có cổ phần chủ yếu trong các toà soạn, đài phát thanh, đài truyền hình lớn. 11 nhà in và tập đoàn thông tin đại chúng lớn nhất nước Mỹ hiện nay đều do 144 trên tổng số 1000 công ty lớn nhất nước chi phối. 81 vị giám đốc của 6 tập đoàn thông tin đại chúng lớn nhất của Mỹ cũng đồng thời nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong 104 công ty khổng lồ của nước này. Dĩ nhiên, với hình thức sở hữu tư nhân như vậy thì các phóng viên không thể có cái gọi là “tự do tư tưởng”, nguy cơ bị mất việc làm của họ rất cao nếu dám bộc lộ tư tưởng cá nhân trái với ý muốn giới chủ. Báo cáo này khẳng định: Chính phủ Mỹ muốn các công dân của mình phải tin rằng các cơ quan thông tin đại chúng là những “tổ chức độc lập”, song thực tế đó chỉ là những “con tin” phục vụ các giá trị và lợi ích kinh tế của các ông chủ.

Trên đây chỉ là một số ví dụ tiêu biểu chứng minh cho tính lố bịch trong chính sách ngoại giao nhân quyền của chính phủ Mỹ. Chính sách này đã, đang và sẽ vấp phải sự phản ứng quyết liệt của dư luận thế giới. Gậy ông đang đập lại lưng ông. Càng lên mặt “dạy” các nước khác về nhân quyền, Mỹ càng bộc lộ bộ mặt thật xấu xa của mình. Trên thực tế, cả thế giới đều công khai hoặc ngấm ngầm chống lại chính sách này của Mỹ bởi chẳng có một quốc gia nào có thể tỏ ra thích thú khi bị nước khác “thò mũi” vào chính sự của nước mình. Tờ Tuần báo Châu A’ xuất bản tại Mỹ từng vạch rõ: “Châu A’ còn lâu mới chấp nhận những giá trị theo quan niệm của Washington. Họ đối phó bằng cách chỉ ra rằng, bản thân xã hội Mỹ không hoàn hảo, bạo lực tràn lan, vô kỷ luật về tài chính, sự tan vỡ gia đình. Họ nhắn nhủ rằng người Mỹ hãy thu xếp trật tự trong nhà mình trước khi thuyết giáo những người khác…”. Cách đây 6 năm, Mahathir Mohamad – Thủ tướng nổi tiếng của Malayxia – trong một hội nghị quốc tế lớn tại Kuala Lumpur đã đọc bài diễn văn nảy lửa, đòi Mỹ “hãy về suy nghĩ lại về nhân quyền”.

Kỳ họp lần thứ 56 về nhân quyền của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vừa diễn ra mới đây đã chứng tỏ thất bại ngày càng nặng nề của Hoa Kỳ trong việc áp dụng chính sách ngoại giao nhân quyền. Rất nhiều quốc gia đã chỉ trích gay gắt việc Hoa Kỳ tiếp tục ban hành cái gọi là “Báo cáo tình hình nhân quyền tại các quốc gia” hàng năm và coi đó là sự can thiệp trắng trợn vào công việc của nước khác. Báo ánh sáng mới của Myanmar ra ngày 19/4 đã đăng xã luận lên án Mỹ vu khống các nước khác vi phạm nhân quyền, trong khi lại phớt lờ tình trạng nhân quyền bị vi phạm ở ngay chính nước Mỹ. Bài báo cũng nêu rõ, chính phủ Myanmar bác bỏ bản báo cáo của Mỹ công bố tháng 3/2000 về vấn đề nhân quyền ở Myanmar, coi đó là những luận điệu hoàn toàn giả dối, mang ý đồ chính trị xấu nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của nước này. Cũng trong ngày 19/4, I-ran và I-rắc cũng bác bỏ những đánh giá của Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc (UNHRC) về nhân quyền ở hai nước này và cho rằng đó chỉ là những luận điệu cũ rích, một hành động do Mỹ giật dây nhằm vi phạm chủ quyền của nước khác.

Song, minh chứng hùng hồn nhất cho thất bại của Mỹ trong kỳ họp này phải nói là sự kiện Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 18/4/2000 đã phủ quyết dự thảo nghị quyết của Mỹ lên án Trung Quốc về vấn đề quyền con người. Cùng với sự thất bại trong việc dùng con bài nhân quyền gây sức ép với nước này trong việc hưởng quy chế tối huệ quốc, đây là một sự bất lực rất đau đớn với Hoa Kỳ bởi Trung Quốc là một “trọng điểm công kích” ở Châu A’ và trên thế giới trong quá trình áp dụng chính sách ngoại giao nhân quyền. Từ lâu, Hoa Kỳ luôn dùng con bài nhân quyền để công kích, gây rắc rối cho Trung Quốc trên trường quốc tế. Sự kiện này càng chứng tỏ chính sách ngoại giao nhân quyền của Mỹ đã lỗi thời, phản tác dụng, “gậy ông càng ngày càng đập lại lưng ông”.

Vũ Khương Duy

Thứ Năm, 30 tháng 9, 2021

Nhận diện những “con rối” lưu vong chống phá đất nước

 

Phạm Minh Vũ – từ một sinh viên vô kỷ luật đến trượt dài trên hành trình phạm tội

Phạm Minh Vũ sinh năm 1992 tại Quảng Trị, từng là sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh và Truyền hình 1 tại tỉnh Hà Nam. Không như những sinh viên khác luôn nỗ lực học tập để thành tài, Phạm Minh Vũ lại dành thời gian quý báu để truy cập vào những trang phản động và bị tiêm nhiễm những tư tưởng chống đối, rồi tham gia vào những hoạt động tội lỗi, đi ngược lại những quy định của nhà trường và bị đuổi học.

Được sự lôi kéo của các đối tượng thuộc tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ của Nguyễn Văn Đài, Phạm Minh Vũ đã tham gia điều hành trang phản động của tổ chức này và liên kết với các đối tượng Đỗ Nam Trung, Lê Thị Phương Anh tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, tuần hành gây rối an ninh trật tự.

Thông qua đối tượng Nguyễn Thái Học, thành viên tổ chức khủng bố Việt Tân, chúng đã chuyển cho Phạm Minh Vũ tiền để thu thập tài liệu, biên soạn bịa đặt, kích động và kêu gọi công nhân trong các khu công nghiệp nghỉ việc, tụ tập biểu tình phá rối an ninh trật tự tại các tỉnh phía Nam.

Tối ngày 14/5/2014, trong khi Phạm Minh Vũ cùng đồng bọn đến Bình Dương quay phim, chụp ảnh các hoạt động gây rối của những kẻ quá khích trà trộn vào giới công nhân thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Phạm Minh Vũ, Đỗ Nam Trung và Lê Thị Phương Anh đã bị khởi tố, điều tra theo Điều 258, Bộ luật Hình sự. Sau đó, Phạm Minh Vũ đã bị tòa tuyên phạt 18 tháng tù giam về hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước.

Trong quá trình chống phá đất nước, Phạm Minh Vũ đã được các tổ chức phản động nhiều lần chuyển tiền, điện thoại và máy ảnh làm phương tiện phục vụ cho việc thu thập, phát tán tin tức, tài liệu xuyên tạc tình hình đất nước, thông qua các đối tượng chống đối như Nguyễn Thái Học, Trần Bửu Thọ, Ngô Duy Quyền.

Đáp lại Phạm Minh Vũ đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Sep Pham” và địa chỉ hộp thư điện tử “vuemail” để phát tán 174 trang tài liệu có nội dung đả kích chế độ, kích động biểu tình, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Sau khi ra tù, không chịu hoàn lương trở thành người có ích, Phạm Minh Vũ tiếp tục có nhiều hoạt động chống phá Việt Nam thông qua việc sử dụng tài khoản trên mạng xã hội để phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ chủ chốt các cấp và lực lượng vũ trang; xuyên tạc tình hình chính trị, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, tự do báo chí và tự do ngôn luận, công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam. Lo sợ bị bắt, bị xử lý, Phạm Minh Vũ đã chạy trốn ra nước ngoài và tiếp tục hành trình xuyên tạc, bịa đặt nói xấu quê hương, đất nước trên các trang mạng xã hội.

 

Đường Văn Thái – không đỗ công chức, tự huyễn hoặc bản thân, bất mãn tự đề cao bản thân rồi thành kẻ chống phá đất nước

Đường Văn Thái, còn gọi là Thái Văn Đường, sinh năm 1982 tại Đông Anh, Hà Nội. Đường Văn Thái được đào tạo cơ bản ở trong nước, có thời gian tham gia hoạt động đoàn và làm hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai & Giải phóng mặt bằng huyện Đông Anh. Năm 2013, thi công chức nhưng không đỗ và nảy sinh bất mãn, Thái xin nghỉ việc.

Sau đó đi học về chuyên ngành quản lý đất đai tại Hàn Quốc theo dạng tự túc. Từ khi có tư tưởng tiêu cực, bất mãn và nhất là sau khi sang Hàn Quốc du học, Đường Văn Thái đã giao du với nhiều đối tượng xấu, có hoạt động chống Việt Nam, tham gia kích động tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự trên địa bàn Hà Nội. Y đã móc nối tham gia vào các hội, nhóm chống đối như Hội Nhà báo độc lập, Hội Anh em dân chủ….

Đường Văn Thái đã tạo lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội để phát tán những bài viết, hình ảnh chứa đựng những thông tin không đúng sự thật trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, tập trung bóp méo, thổi phồng, bôi đen hiện tình đất nước và kích động người dân tham gia vào các hoạt động gây rối.

Năm 2017, sau khi về nước, Đường Văn Thái đã chuyển vào sống tại TP Hồ Chí Minh và tiếp tục có các hoạt động chống phá Việt Nam ngày một manh động. Khi một số đồng bọn bị bắt, biết rất khó tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật, năm 2019, y đã tìm cách trốn ra nước ngoài với mục đích xin tỵ nạn chính trị.

Cuộc sống tỵ nạn của Đường Văn Thái ở Thái Lan cùng với một số trường hợp khác đang rất khó khăn, khổ sở. Để được các thế lực thù địch chú ý, quan tâm và có tiền sinh sống, y thường xuyên tạo lập và phát tán trên youtube nhiều tin tức bịa đặt, thông tin giả xuyên tạc tình hình ở trong nước. Rất nhiều ý kiến trên cộng đồng mạng đã phản đối hành vi sai trái của Đường Văn Thái và gọi y là kẻ “tiểu nhân, kẻ bán nước cầu vinh”.

 

Từ Đường Văn Thái cho đến Lê Văn Thương, Phạm Minh Vũ, Trương Quốc Huy và Trần Minh Nhật cùng một số kẻ khác đều có quá trình sa ngã, dần trượt dài từ một công dân thành những kẻ phá hoại đất nước.

Lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, bám gót các thế lực chống đối và lợi dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước trên trường quốc tế.

Hồng Phú

Nhận diện những “con rối” lưu vong chống phá đất nước P1

 

Thời gian gần đây, một số đối tượng là công dân Việt nhưng vì quyền lợi vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, tiếp tay cho kẻ xấu gây tâm lý hoang mang, ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm hại đất nước.

Ban đầu, các đối tượng đều là những công dân bình thường nhưng rồi sa ngã dần, trượt dài trên con đường tội lỗi khi bị mê muội trước sự lôi kéo của kẻ xấu. Khi phát hiện có nguy cơ nhận sự trừng trị ở trong nước, các đối tượng đã tìm cách chạy ra nước ngoài để bám gót các thế lực thù địch làm hại đất nước, dân tộc. Dưới đây là một số người nằm trong những kẻ đó.

Lê Văn Thương – từ kẻ vô kỷ luật đến con đường chống phá đất nước

Lê Văn Thương, sinh năm 1988 tại vùng đất Quảng Ngãi giàu truyền thống cách mạng với biết bao tấm gương hy sinh vì đất nước. Là người từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện đào tạo thành sỹ quan nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu trở thành người có ích cho đất nước, cho quân đội và gia đình mà sa ngã, trượt dài trên con đường tội lỗi. Sau nhiều lần vi phạm kỷ luật, mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.

Thiết tưởng, sau khi trở về địa phương, Thương sẽ vượt qua lầm lỗi, chí thú làm ăn chăm lo cho gia đình, trở thành công dân tốt, nhưng y lại tiếp tục trượt dài, bộc lộ bản chất của một kẻ phá hoại, bắt tay với các đối tượng xấu có nhiều hoạt động chống phá đất nước và tuyên bố “tự nguyện ra quân và rời bỏ Đảng” để thành lập lực lượng hòng thay đổi chế độ. Một kẻ ảo tưởng mới chỉ được đào tạo những kiến thức ở cấp phân đội về quân sự nhưng Thương lại lừa bịp, tuyên bố rất hùng hồn có năng lực, khả năng chỉ huy những đội quân lớn có thể làm thay đổi được tình hình đất nước.

Trước những hoạt động chống phá đất nước, có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động, kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Biết không thể có nơi dung thân ở trong nước, Lê Văn Thương đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài. Để được các thế lực ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Thương đã bất chấp sự khoan dung của đất nước và tiếp tục lún sâu hơn vào con đường tội lỗi khi sử dụng không gian mạng tạo lập các tài khoản để bịa đặt, nói xấu tình hình đất nước, chống phá Việt Nam. Trên tài khoản facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, đối tượng đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội lại quê hương, đất nước khi liên tục phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt. Chính y đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chặn lại con đường trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây.

Trương Quốc Huy – “con rối” trong tay các thế lực bên ngoài

Trương Quốc Huy, sinh năm 1981 tại TP Hồ Chí Minh. Huy chỉ học hết lớp 7 rồi bỏ giữa chừng, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đã vi phạm kỷ luật và bị loại ngũ. Do kém hiểu biết, trong giai đoạn 2004, 2005, Huy và Hàng Tấn Phát – một kẻ đồng tính, đã bị các tổ chức phản động dụ dỗ, lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động“Hội đồng Dân quân cứu quốc” do đối tượng khủng bố Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu.

 

Sau đó, được sự hà hơi, tiếp sức, chỉ đạo của các đối tượng phản động Bùi Quang Vinh, Nguyễn Hoàng Huy Đức và Lisa Phạm, Trương Quốc Huy đã thu thập, phát tán các tài liệu trên các trang web phản động có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và phát tán tờ rơi có nội dung xuyên tạc chính quyền “đàn áp tôn giáo”, do đó đã được tổ chức khủng bố của Nguyễn Hữu Chánh chuyển cho 600 USD.

Do có hoạt động vi phạm pháp luật, năm 2005, Trương Quốc Huy và Lisa Phạm đã bị cơ quan chức năng của Việt Nam bắt để điều tra làm rõ. Trong thời gian bị tạm giam, hai đối tượng đều tỏ ra ăn năn hối lỗi, viết nhiều lá đơn xin khoan hồng, nội dung rất thống thiết như “Đơn xin cam kết từ bỏ hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam; tôi nhận thấy hành vi của mình vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đi ngược lại mục tiêu chung của dân tộc…

Tôi xin cam kết từ bỏ tất cả để trở thành công dân lương thiện…”. Với mục đích nhân đạo, mở cho kẻ lầm đường lạc lối trở lại thành công dân lương thiện, Trương Quốc Huy được trả tự do sau 9 tháng giam giữ mà không bị truy tố và Lisa Phạm bị trục xuất về Mỹ.

Tuy nhiên, với bản chất phá hoại khó thay đổi, sau khi được trả tự do, Trương Quốc Huy đã tiếp tục có hoạt động vi phạm pháp luật, gia nhập các tổ chức phản động. Năm 2006, Trương Quốc Huy và anh trai là Trương Quốc Tuấn bị bắt về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Năm 2008, Trương Quốc Huy bị tòa án xét xử, tuyên phạt 6 năm tù giam và 3 năm quản chế. Năm 2012, sau khi mãn hạn tù, Trương Quốc Huy cùng Trương Quốc Tuấn trốn sang Thái Lan và bị bắt giữ vì hành vi nhập cảnh trái phép; sau đó đã được tỵ nạn tại Mỹ dưới sự bảo trợ, bảo lãnh của tổ chức, cá nhân phản động đã từng hà hơi, tiếp sức cho đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

 

Sau khi được tỵ nạn tại Mỹ, Trương Quốc Huy tiếp tục “ngựa quen đường cũ” và để có tiền trang trải cho cuộc sống, y đã tuyên bố gia nhập các tổ chức phản động và tạo lập các tài khoản mạng xã hội, trang mạng phản động, trong đó có N10Tv để phát tán tài liệu sằng bậy, bịa đặt chống phá Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam yêu chuộng hòa bình đã đăng trên các tài khoản mạng xã hội gọi Trương Quốc Huy là loại “tâm thần chính trị”; những quân nhân có thời gian nhập ngũ cùng đã tẩy chay, bóc mẽ, chỉ ra những việc làm vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật quân đội của Trương Quốc Huy.

Trần Minh Nhật – kẻ bôi nhọ Thiên Chúa, tay sai của tổ chức khủng bố Việt Tân

Trần Minh Nhật sinh năm 1988, trong một gia đình Thiên Chúa giáo quê Nghệ An. Là một sinh viên được đào tạo cơ bản ở TP Hồ Chí Minh, có tri thức, cứ tưởng Trần Minh Nhật sẽ trở thành người có ích. Tuy nhiên, Nhật đã bị các đối tượng xấu móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân, có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, do đó đã bị bắt, bị xử lý về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Trần Minh Nhật đã quan hệ với một số đối tượng phản động cùng quê Nghệ An, như Nguyễn Xuân Kim, Đặng Xuân Diệu và đặc biệt là các đối tượng trong nhóm Hồ Đức Hòa, thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân.

Năm 2011, Trần Minh Nhật xuất cảnh đi Thái Lan tham gia khóa huấn luyện cách thức chống phá Việt Nam do tổ chức khủng bố Việt Tân tổ chức, sau đó được chúng cung cấp tài chính, tung trở lại Việt Nam để phá hoại.

Tuy nhiên, hoạt động phạm tội của chúng đã bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ và điều tra làm rõ. Năm 2013, Hồ Đức Hòa cùng đồng bọn đã bị tòa án xét xử về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; trong đó, Trần Minh Nhật bị tuyên phạt 4 năm tù giam, 3 năm quản chế.

 

Tháng 8/2015, ra tù, Trần Minh Nhật chuyển vào cư trú tại tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian chấp hành hình phạt quản chế, y vẫn tiếp tục “ngựa quen đường cũ” có nhiều hoạt động chống phá đất nước. Năm 2016, Trần Minh Nhật trốn ra Nghệ An và đã có nhiều hoạt động gây rối an ninh trật tự, lôi kéo tụ tập đông người chặn Quốc lộ 1, đập phá trụ sở chính quyền địa phương. Trần Minh Nhật đã bị khởi tố, rồi bị truy nã về hành vi không chấp hành án theo quy định tại Điều 304 BLHS. Biết sẽ bị bắt nếu còn ẩn trốn ở trong nước, y đã cùng vợ chạy trốn ra nước ngoài.

Để hoạt động chống phá đất nước và mong nhận được sự bố thí của các thế lực ngoại bang, Trần Minh Nhật đã tạo lập, sử dụng nhiều tài khoản trên mạng xã hội, trong đó có tài khoản youtube VoteTV để phát tán thông tin bịa đặt, sai sự thật về tình hình đất nước, đi ngược lại những điều tốt đẹp của người Công giáo và những điều răn của Chúa.

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2021

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CẦN HIỂU ĐÚNG LUẬT AN NINH MẠNG, TRÁCH NHIỆM TRONG ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Luật An ninh mạng 2018 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018 và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Luật an ninh mạng gồm có 07 Chương và 43 Điều, trong đó, nêu ra các nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng.

Luật An ninh mạng áp dụng cho tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến bảo vệ an ninh mạng, được định nghĩa rộng rãi là đảm bảo rằng các hoạt động trong không gian mạng không gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Đặc biệt, Luật An ninh mạng sẽ áp dụng cho các tổ chức ở nước ngoài, có người dùng cư trú tại Việt Nam như Google hoặc Facebook.

Luật An ninh mạng bao gồm tất cả các mạng về cơ sở hạ tầng CNTT, viễn thông, Internet, hệ thống máy tính, cơ sở dữ liệu, xử lý thông tin, hệ thống lưu trữ và kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động của mọi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong không gian mạng và người dùng Internet bao gồm thương mại điện tử, trang web, diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội và blog.

Luật An ninh mạng áp đặt các nghĩa vụ khác nhau đối với người vận hành hệ thống thông tin. Theo Luật An toàn thông tin mạng theo đó, người vận hành hệ thống thông tin có nghĩa là bất kỳ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào có quyền quản lý trực tiếp đối với hệ thống thông tin.

Luật An ninh mạng phân loại các hệ thống thông tin thành: Các hệ thống thông tin quan trọng đối với an ninh quốc gia; Các hệ thống không thuộc Hệ thống thông tin quan trọng (Hệ thống thông tin không quan trọng).

Hệ thống thông tin quan trọng: thường được định nghĩa là hệ thống thông tin, nếu gặp sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc vận hành, bóp méo, gián đoạn, ngừng hoạt động, tê liệt, phá hủy sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến an ninh mạng. Dường như danh sách Hệ thống thông tin quan trọng theo Luật An ninh mạng 2018 rộng hơn so với những gì đã được quy định theo Quyết định 632 của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 5 năm 2017 (Quyết định 632). Hiện tại, Quyết định 632 bao gồm các lĩnh vực viễn thông và mạng lưới thông tin trong các cơ quan của Đảng Cộng sản và chính phủ mà Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) hoặc Văn phòng Chính phủ là quản trị viên (chủ đề). Các hệ thống thông tin quan trọng hiện nay bao gồm hệ thống thông tin trong các lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa và báo chí. Có lẽ, Quyết định 632 có thể được bổ sung với nhiều lĩnh vực quan trọng đối với an ninh quốc gia và sự tham gia của các bộ liên quan khác ngoài MIC.

Hệ thống thông tin không quan trọng: mặc dù không được xác định rõ ràng, nên là bất kỳ hệ thống thông tin nào được quản lý bởi các tổ chức và doanh nghiệp tư nhân.

Hành vi bị cấm trên không gian mạng theo luật an ninh mạng: Luật An ninh mạng 2018 cấm sử dụng không gian mạng để thực hiện bất kỳ hành vi nào như:

Sử dụng không gian mạng, CNTT và phương tiện điện tử để vi phạm luật pháp về an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội;

Tổ chức, kích hoạt, thông đồng, xúi giục, mua chuộc, lừa đảo hoặc lừa đảo, thao túng, đào tạo hoặc xúi giục, kêu gọi  người để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Lịch sử xuyên tạc, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hủy khối đoàn kết dân tộc, tiến hành các hành vi phạm tội chống tôn giáo, phân biệt giới tính hoặc các hành vi phân biệt chủng tộc;

Cung cấp thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn trong công dân, gây tổn hại cho các hoạt động kinh tế xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc của người thực hiện công vụ, hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

Các hoạt động là mại dâm, tệ nạn xã hội hoặc buôn bán người; công bố thông tin là dâm dục, đồi trụy hoặc hình sự; hoặc phá hủy các truyền thống và phong tục tốt đẹp của người dân, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe của cộng đồng; và

Kích động, dụ dỗ hoặc kích hoạt người khác phạm tội.

Luận An ninh mạng giám sát hệ thống thông tin bao gồm:

Hệ thống thông tin quan trọng: Hệ thống thông tin quan trọng phải được các cơ quan có thẩm quyền đánh giá và chỉ có thể được đưa vào hoạt động sau khi được chứng nhận là đáp ứng các điều kiện an ninh mạng. Hệ thống thông tin quan trọng có thể được kiểm tra một cách thường xuyên hoặc khi xảy ra một sự kiện được quy định theo luật này. Các nhà điều hành của Hệ thống thông tin quan trọng chịu trách nhiệm giám sát các hệ thống, xây dựng cơ chế cảnh báo tự động và nhận các cảnh báo về các mối đe dọa đối với an ninh mạng và lập kế hoạch đối phó với các tình huống đó.

Hệ thống thông tin không quan trọng: Hệ thống thông tin không quan trọng có thể bị Lực lượng đặc nhiệm an ninh mạng đặt dưới sự kiểm tra an ninh mạng khi vi phạm luật an ninh mạng vi phạm an ninh quốc gia hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho trật tự và an toàn xã hội. Lực lượng đặc nhiệm an ninh mạng có thể tiến hành kiểm tra sau khi gửi thông báo bằng văn bản ít nhất 12 giờ trước khi kiểm tra cho quản trị viên của Hệ thống thông tin không quan trọng. Các thành phần được kiểm tra bao gồm phần mềm, phần cứng, thiết bị kỹ thuật số; dữ liệu được lưu trữ, xử lý và chuyển giao trong hệ thống; và phương pháp bảo vệ bí mật nhà nước.

Như vậy, Luật An ninh mạng không đặt ra cơ sở và thủ tục rõ ràng để xác định có vi phạm Luật An ninh mạng hay không. Ví dụ, Luật An ninh mạng 2018 cấm sử dụng không gian mạng để bóp méo lịch sử, phủ nhận thành tích cách mạng, phá hủy khối đoàn kết dân tộc, tiến hành phạm tội chống lại tôn giáo, phân biệt giới tính hoặc hành vi phân biệt chủng tộc. Sẽ rất khó và có thể tranh cãi để xác định một hành động là xuyên tạc lịch sử và do đó vi phạm điều khoản đó. Do đó, các quy định có thể tạo ra sự không chắc chắn cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong không gian ảo và giữ dữ liệu của khách hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ.

Luật an ninh mạng sẽ giám sát nội dung: Các nhà cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tại Việt Nam phải tuân thủ nhiều yêu cầu để giám sát nội dung được tải lên và phổ biến trong không gian ảo:

Tất cả các trang web, cổng hoặc trang chuyên biệt trên mạng xã hội của các cơ quan, tổ chức và cá nhân không được cung cấp, tải lên hoặc truyền thông tin với tuyên truyền chống lại Nhà nước, kích động bạo loạn, hoặc phá vỡ an ninh hoặc gây rối trật tự công cộng, gây bối rối hoặc gây ra sự xấu hổ hoặc vi phạm lệnh quản lý kinh tế (nội dung bị cấm);

Để xác minh đăng ký tài khoản của người dùng và cung cấp thông tin của người dùng khi nhận được yêu cầu bằng văn bản từ các cơ quan có thẩm quyền về an ninh mạng;

Để ngăn chặn việc chia sẻ thông tin và xóa nội dung bị cấm trong vòng 24 giờ sau khi nhận được yêu cầu bởi Luật an ninh sẽ ngay lập tức điều tra và ngừng cung cấp dịch vụ cho các tổ chức và cá nhân tải lên thông tin bị cấm.

Người quản trị mạng có thể rất khó khăn và tốn kém khi xác định và lọc nội dung bị cấm vì một số trong số đó không rõ ràng. Ví dụ, Luật An ninh mạng 2018 xác định thông tin đang tuyên truyền chống lại Nhà nước để bao gồm nội dung:

Xuyên tạc hoặc phỉ báng các cơ quan hành chính nhân dân;

Khởi xướng chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lấn, gây chia rẽ hoặc thù hận giữa các nhóm sắc tộc, tôn giáo và người dân của tất cả các quốc gia;

Xúc phạm người dân, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, đại nhân, lãnh đạo, người nổi tiếng hoặc anh hùng dân tộc.

Khi đọc những hạn chế này, người ta có thể bị nhầm lẫn, ví dụ: Ai được coi là người vĩ đại? Hồi giáo, lãnh đạo, người nổi tiếng hay anh hùng dân tộc?

Liệu một nghiên cứu công khai mới với một quan điểm khác về thành tích của một anh hùng dân tộc Hồi giáo có thể được coi là xúc phạm người anh hùng dân tộc Hồi giáo? quy định này có thể tước quyền của người dân để chỉ trích sự lãnh đạo và quản trị của một hệ thống hành chính hoặc một số quan chức của hệ thống đó?

Thực thi luật an ninh mạng: Các lực lượng chuyên trách chịu trách nhiệm thi hành Luật An ninh mạng (Lực lượng đặc nhiệm an ninh mạng) sẽ được bổ nhiệm thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Lực lượng đặc nhiệm an ninh mạng có sức mạnh rộng lớn theo Luật An ninh mạng với sự giám sát hạn chế. Ví dụ, Lực lượng đặc nhiệm an ninh mạng không bắt buộc phải tuân theo các quy trình tương tự như các Quy trình tố tụng hình sự để tiến hành kiểm tra hệ thống thông tin hoặc thu thập dữ liệu người dùng và không bắt buộc phải giữ bí mật thông tin mà họ đang thu thập.

Theo Luật An ninh mạng 2018, hậu quả của việc vi phạm luật về an ninh mạng có thể ở các hình thức kỷ luật, trách nhiệm hành chính hoặc hình sự.

Thực tiễn cho thấy, mạng xã hội như là một thứ gì đấy không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, thời gian tới các thế lực thù địch, phản động sẽ tiếp tục đẩy mạnh hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc với những phương thức thủ đoạn táo bạo hơn, tinh vi hơn. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân đều là một người đọc tinh tế và lý trí đặc biệt là những cán bộ, đảng viên bởi họ chính là những người quân nhân cách mạng chân chính trên mọi mặt trận.

Tỷ lệ cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội là khá nhiều và đó cũng là nhu cầu bắt kịp xu thế của mỗi người. Hầu hết mọi người đều tập trung lan truyền những giá trị đẹp, những câu chuyện cuộc sống, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước hay thể hiện quan điểm cá nhân về một vấn đề nào đó. Thì vẫn còn nhiều cá nhân thờ ơ, phất lờ đi những vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Tôi thử hỏi rằng, ngay cả những cán bộ, đảng viên mà thế thì phải làm sao? Vậy thì vai trò của họ ở đâu trên không gian mạng này?

Bên cạnh những cán bộ, đảng viên thường xuyên cập nhật những thông tin chính thống, chia sẽ thông tin và thể hiện nhiều quan điểm hợp lý. Thì nhiều người tư duy thấy đúng cũng không bảo vệ; thấy sai cũng không nêu ra quan điểm để chấn chỉnh. Và chính tư duy cá nhân ấy cũng được nhiều người áp dụng khi tham gia mạng xã hội. Lặng lẽ vào nhìn những thông tin không chính thống, ngồi nghiên cứu những dòng comment và thờ ơ, chẳng phản biện gì. Một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ.

Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc," do vậy việc chú trọng rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là vấn đề luôn được Đảng đặc biệt chú trọng. Một trong những nội dung được Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) xem xét, quyết định là việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

Để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, từ thực tiễn 4 năm thực hiện Quy định số 115, ngày 07/12/2007 của Bộ Chính trị (khóa X), Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) đã ban hành Quy định số 47, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về những điều đảng viên không được làm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ thực tế gần 10 năm triển khai thực hiện vừa qua cho thấy, các quy định này là rất cần thiết; những nội dung của Quy định đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn ngừa và khắc phục một cách mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng...

Theo đó, mỗi cán bộ, đáng viên cần nêu cao trách nhiệm bằng nhận thức lý luận và thực tiễn chân lý để ngăn chặn, đấu tranh, phản bác lại các thông tin bịa đặt, sai trái, phản động của các thế lực thù địch.. Xem, đọc xong mà vô cảm đến mức lặng lẽ cho qua, khác gì đã đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi. Vì vậy, để nâng cao trách nhiệm, hiệu quả công tác đấu tranh, ngăn ngừa hoạt động này, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần nâng cao nhận thức và nêu cao tinh thần cảnh giác trước những hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về Đảng và Nhà nước ta. Thiết nghĩ, mỗi cán bộ đảng viên phải là những chiến sĩ trên mặt trận này./.



NTP